Xem Nhiều 12/2022 #️ Thủy Đậu: Triệu Chứng, Cách Chăm Sóc Và Phòng Bệnh / 2023 # Top 20 Trend | Kichcauhocvan.net

Xem Nhiều 12/2022 # Thủy Đậu: Triệu Chứng, Cách Chăm Sóc Và Phòng Bệnh / 2023 # Top 20 Trend

Cập nhật thông tin chi tiết về Thủy Đậu: Triệu Chứng, Cách Chăm Sóc Và Phòng Bệnh / 2023 mới nhất trên website Kichcauhocvan.net. Hy vọng nội dung bài viết sẽ đáp ứng được nhu cầu của bạn, chúng tôi sẽ thường xuyên cập nhật mới nội dung để bạn nhận được thông tin nhanh chóng và chính xác nhất.

10/02/2017

Nguyên nhân gây bệnh

Bệnh thủy đậu là một bệnh truyền nhiễm, do virus Varicella Zoster gây ra và thường bùng phát thành dịch vào mùa xuân.

Virus gây bệnh thủy đậu lây chủ yếu qua đường hô hấp (hoặc không khí), người lành dễ bị nhiễm bệnh nếu hít phải những giọt nước bọt bắn ra khi bệnh nhân thủy đậu ho, hắt hơi hoặc nhảy mũi. Ngoài ra, khi tiếp xúc với bệnh nhân thủy đậu, bệnh có thể lây từ bóng nước khi bị vỡ ra, lây từ vùng da bị tổn thương hoặc lở loét từ người mắc bệnh. Đặc biệt, phụ nữ mang thai không may bị nhiễm bệnh sẽ rất dễ lây cho thai nhi thông qua nhau thai.

Các nốt bóng nước ở bệnh thủy đậu

Triệu chứng bệnh thủy đậu

Khi khởi phát, người bệnh có thể có biểu hiện sốt, đau đầu, đau cơ, một số trường hợp nhất là trẻ em có thể không có triệu chứng báo trước.

Khi bị thủy đậu, cơ thể người bệnh sẽ xuất hiện những “nốt rạ”. Đây là những nốt tròn nhỏ xuất hiện nhanh trong vòng 12 – 24 giờ, các nốt này sẽ tiến triển thành những mụn nước, bóng nước. Nốt rạ có thể mọc khắp toàn thân hay mọc rải rác trên cơ thể, số lượng trung bình khoảng 100 – 500 nốt. Trong trường hợp bình thường những mụn nước này khô đi, trở thành vảy và tự khỏi hoàn toàn trong 4 – 5 ngày.

Ở trẻ em, thủy đậu thường kéo dài khoảng 5 – 10 ngày dẫn đến việc phải nghỉ học hoặc nghỉ đến nơi giữ trẻ.

Biến chứng của bệnh thủy đậu

Thông thường, thủy đậu là bệnh lành tính. Nhưng bệnh cũng có thể gây biến chứng nguy hiểm như: viêm màng não, xuất huyết, nhiễm trùng huyết, nhiễm trùng nốt rạ, viêm mô tế bào, viêm gan… Một số trường hợp có thể gây tử vong nếu người bệnh không được điều trị kịp thời.

Viêm phổi do thủy đậu, ít khi xảy ra hơn, nhưng rất nặng và rất khó trị.

Viêm não do thủy đậu cũng xảy ra, không hiếm: sau thủy đậu trẻ bỗng trở nên vật vã, kích thích, nhiều khi kèm theo co giật, hôn mê. Những trường hợp này có thể mang di chứng thần kinh lâu dài: bị điếc, chậm phát triển, động kinh v.v…

Người mẹ mắc bệnh thủy đậu khi đang mang thai có thể sinh con bị dị tật bẩm sinh sau này.

Chăm sóc người bệnh bị thủy đậu

Vì là bệnh lây qua đường hô hấp và tiếp xúc trực tiếp với dịch nốt phỏng nên khi trẻ bị thủy đậu, việc đầu tiên là các bậc cha mẹ nên cách ly trẻ tại nhà cho tới khi khỏi hẳn. Bổ sung thêm vitamin C, nhỏ mũi 2 lần/ngày cho trẻ. Mặc quần áo vải mềm, thấm hút mồ hôi và đặc biệt chú ý tới việc đảm bảo vệ sinh da cho trẻ để tránh xảy ra biến chứng. Giữ bàn tay cho trẻ thật sạch. Khi cần tiếp xúc người bệnh thủy đậu thì phải đeo khẩu trang. Sau khi tiếp xúc phải rửa tay ngay bằng xà phòng. Đặc biệt những phụ nữ đang mang thai cần tuyệt đối tránh tiếp xúc với người bệnh.

Lưu ý: Tránh làm vỡ các nốt thuỷ đậu vì dễ gây bội nhiễm và có thể tạo thành sẹo tồn tại lâu dài.

Nằm trong phòng riêng, thoáng khí, có ánh sáng mặt trời, thời gian cách ly là khoảng 7 đến 10 ngày từ lúc bắt đầu phát hiện bệnh (phát ban) cho đến khi các nốt phỏng nước khô vảy hoàn toàn.

Sử dụng các vật dụng sinh hoạt cá nhân riêng: khăn mặt, cốc, chén, bát, đũa.

Vệ sinh mũi họng hàng ngày bằng dung dịch nước muối sinh lý 0,9%.

Thay quần áo và tắm rửa hàng ngày bằng nước ấm sạch.

Nên mặc quần áo rộng, nhẹ, mỏng.

Đối với trẻ em:

– Nên cắt móng tay cho trẻ, giữ móng tay trẻ sạch hoặc có thể dùng bao tay vải để bọc tay trẻ nhằm tránh biến chứng nhiễm trùng da thứ phát do trẻ gãi gây trầy xước các nốt phỏng nước.

– Ăn các thức ăn mềm, lỏng, dễ tiêu, uống nhiều nước, nhất là nước hoa quả.

– Dùng dung dịch xanh Milian (xanh Methylene) để chấm lên các nốt phỏng nước đã vỡ.

– Trường hợp sốt cao, có thể dùng các thuốc hạ sốt giảm đau thông thường nhưng phải theo hướng dẫn của thầy thuốc, có thể dùng kháng sinh trong trường hợp nốt rạ bị nhiễm trùng: nốt rạ có mủ, tấy đỏ vùng da xung quanh.

Nếu bệnh nhân cảm thấy: Khó chịu, lừ đừ, mệt mỏi, co giật, hôn mê hoặc có xuất huyết trên nốt rạ nên đưa đến ngay các cơ sở y tế để được theo dõi và điều trị.

Phòng bệnh thủy đậu

Mặc dù bệnh có thể lây lan nhanh chóng trong cộng đồng, nhưng hiện tại đã có biện pháp chủ động để phòng ngừa bệnh thủy đậu, đó là chủng ngừa bằng vắc-xin. Đối với trẻ từ 12 tháng tuổi tới 12 tuổi, tiêm 1 liều và liều thứ 2 nên tiêm thêm cách liều thứ nhất 6 tuần trở đi hoặc trong khoảng 4 – 6 tuổi để gia tăng hiệu quả phòng bệnh và giảm việc mắc bệnh thuỷ đậu trở lại mặc dù trước đó đã tiêm phòng. Đối với trẻ trên 13 tuổi, thanh niên và người lớn, tiêm 2 liều cách nhau tốt nhất là sau 6 tuần.

TS.BS Nguyễn Văn Lâm – Trưởng khoa Truyền nhiễm

Triệu Chứng, Cách Chăm Sóc Trẻ Em Bị Sốt Xuất Huyết Tại Nhà Và Cách Phòng Bệnh / 2023

Triệu chứng, cách chăm sóc trẻ em bị sốt xuất huyết tại nhà và cách phòng bệnh

Bệnh sốt xuất huyết ở trẻ em là bệnh vô cùng nguy hiểm có thể gây nhiều biến chứng nguy hiểm tới tính mạng nên các bậc cha mẹ phải có cách chăm sóc trẻ tốt nhất giúp trẻ vượt qua giai đoạn bị bệnh nguy hiểm. Làm sao để nhận biết trẻ bị sốt xuất huyết, cách chăm sóc trẻ bị sốt xuất huyết tại nhà,….

Bệnh sốt xuất huyết

Sốt xuất huyết là bệnh truyền nhiễm cấp tính, có thể gây thành dịch do vi rút dengue gây ra. Bệnh lây lan do muỗi vằn đốt người bệnh nhiễm vi rút sau đó truyền bệnh cho người lành qua vết đốt. Bệnh xảy ra ở tất cả các nước nằm trong vùng khí hậu nhiệt đới. Ở Việt Nam, bệnh lưu hành rất phổ biến, ở cả 4 miền Bắc, Trung, Nam và Tây Nguyên, kể cả ở thành thị và vùng nông thôn, bệnh xảy ra quanh năm nhưng thường bùng phát thành dịch lớn vào mùa mưa, nhất là vào các tháng 7, 8, 9, 10.

 

Sự nguy hiểm của bệnh sốt xuất huyết:

Bệnh chưa có thuốc điều trị đặc hiệu và chưa có vắc xin phòng bệnh.

Thường gây ra dịch lớn với nhiều người mắc cùng lúc làm cho công tác điều trị hết sức khó khăn, có thể gây tử vong nhất là với trẻ em, gây thiệt hại lớn về kinh tế, xã hội.

Dấu hiệu trẻ bị sốt xuất huyết

Bệnh nhi thường khởi phát bệnh với sốt cao đột ngột, trước đó trẻ hoàn toàn khỏe mạnh, thời gian sốt từ 2 – 7 ngày, kèm theo những biểu hiện sau đỏ bừng mặt, da xung huyết, đau nhức cơ, đau khớp, đau đầu.

Trong một số trường hợp, trẻ có thể kèm theo đau họng, viêm kết mạc mắt, mệt mỏi, buồn nôn và nôn. Trẻ nhũ nhi có thể kèm triệu chứng ho sổ mũi hay tiêu chảy. Vào thời điểm này, những triệu chứng của bệnh thường không đặc hiệu, không thể phân biệt với nhiễm các loại vi rút khác.

Tiếp sau đó, bệnh nhi có thể biểu hiện xuất huyết như: xuất hiện chấm xuất huyết (những chấm đỏ không biến mất khi căng da) thường ở cẳng tay, cẳng chân, nách, ngực, thắt lưng; xuất huyết niêm mạc như chảy máu mũi, chảy máu răng, đi cầu ra máu. Ở nữ tuổi dậy thì có thể xuất huyết âm đạo. Những triệu chứng xuất huyết này ít xảy ra vào những ngày đầu. Gan có thể to sau một vài ngày. Khi xét nghiệm công thức máu vào thời gian này, kết quả cho thấy giảm bạch cầu, đó là dấu hiệu cảnh báo khả năng sốt xuất huyết Dengue.

Từ ngày thứ 3 – 7 của bệnh, trẻ bắt đầu hạ sốt khoảng 37,5 – 38 độ C hoặc thấp hơn, một số bệnh nhi xuất hiện các dấu hiệu cảnh báo như lừ đừ, mệt mỏi, ói nhiều, đau bụng, xuất huyết niêm mạc, gan to, hoặc một số trường hợp diễn tiến đến sốc sốt xuất huyết với biểu hiện tay chân lạnh, mạch nhanh nhẹ, huyết áp kẹp hoặc không đo được. Tất cả những trường hợp trên cần phải được nhập viện ngay và tuân theo sự chỉ định của bác sĩ. Nếu để tình trạng sốc kéo dài, bệnh nhi có thể tổn thương nhiều cơ quan, có thể dẫn đến tử vong.

Có những bệnh nhi vào thời điểm ngày 6,7 của bệnh, hết sốt và bệnh hồi phục, ăn uống tốt, đặc biệt xuất hiện mẫn đỏ ngứa ở tay chân, làm phụ huynh lo lắng đưa trẻ đến bệnh viện nhưng được các bác sĩ giải thích đây là đang phục hồi.

Điều trị bệnh sốt xuất huyết ở trẻ em tại nhà như sau

Những trường hợp trẻ sốt xuất huyết được bác sĩ khám và cho điều trị ngoại trú hay tại nhà, quý phụ huynh cần biết cách chăm sóc trẻ.

Khi trẻ sốt cao hơn 38 độ C, cho trẻ uống thuốc hạ sốt Paracetamol đơn chất với liều 10-15mg/kg cân nặng, uống lặp lại 4-6 giờ một lần nếu trẻ sốt, lau mát bằng nước ấm để tránh biến chứng sốt cao, gây co giật.

Chú ý đến chế độ dinh dưỡng

Cho trẻ ăn những thứ ăn lỏng, giàu dinh dưỡng, dễ tiêu hóa như cháo, súp, sữa và nên cho nhiều bữa nhỏ.

Cho trẻ uống nhiều nước hơn bình thường: nước điện giải Oresol, nước lọc, nước sôi nguội, nước trái cây, nước cam, nước chanh.

Cung cấp thêm vitamin các nhóm A, B, C để tăng cường hoạt động chuyển hóa cho cơ thể và tăng cường miễn dịch, sức đề kháng cho cơ thể chống lại bệnh tật.

Tái khám cho trẻ

Nếu có một trong các dấu hiệu sau cần phải đưa trẻ ngay vào bệnh viện:

Tay chân lạnh, nằm một chỗ không chơi, bỏ bú, bỏ ăn uống

Đau bụng, nôn nhiếu, nôn khan

Quấy khóc, bứt rứt, trăn trở khó chịu hoặc li bì

Chảy máu cam, máu răng hoặc ói ra máu, tiêu phân đen

Cần tránh

Không tự ý cho trẻ uống thuốc.

Không cạo gió, vì sẽ làm đau và có thể gây chảy máu, nhiễm trùng cho trẻ.

Không cho trẻ uống những loại  nước có màu đen hoặc đỏ như Coca, Pepsi, Xá xị… vì có thể gây nhầm lẫn với tình trạng xuất huyết tiêu hóa ở trẻ.

Không dùng hạ sốt bằng Aspirin, Ibuprofen (vì dễ gây xuất huyết nặng)

Không cho trẻ sốt xuất huyết truyền dịch tại các phòng khám tư hoặc cơ sở y tế không đủ điều kiện

Cách phòng bệnh sốt xuất huyết:

Cách phòng bệnh tốt nhất là diệt muỗi, lăng quăng/bọ gậy và phòng chống muỗi đốt.

– Loại bỏ nơi sinh sản của muỗi, diệt lăng quăng/bọ gậy bằng cách:

+ Đậy kín tất cả các dụng cụ chứa nước để muỗi không vào đẻ trứng.

+ Thả cá vào các dụng cụ chứa nước lớn (bể, giếng, chum, vại…) để diệt lăng quăng/bọ gậy.

+ Thau rửa các dụng cụ chức nước vừa và nhỏ (lu, khạp…) hàng tuần.

+ Thu gom, hủy các vật dụng phế thải trong nhà và xung quanh nhà như chai, lọ, mảnh chai, mảnh lu vỡ, ống bơ, vỏ dừa, lốp/vỏ xe cũ, hốc tre, bẹ lá…, dọn vệ sinh môi trường, lật úp các dụng cụ chứa nước khi không dùng đến.

+ Bỏ muối hoặc dầu vào bát nước kê chân chạn/tủ đựng chén bát, thay nước bình hoa/bình bông.

– Phòng chống muỗi đốt:

+ Mặc quần áo dài tay.

+ Ngủ trong màn/mùng kể cả ban ngày.

+ Dùng bình xịt diệt muỗi, hương muỗi, kem xua muỗi, vợt điện diệt muỗi…

+ Dùng rèm che, màn tẩm hóa chất diệt muỗi.

+ Cho người bị sốt xuất huyết nằm trong màn, tránh muỗi đốt để tránh lây lan bệnh cho người khác.

– Tích cực phối hợp với chính quyền và ngành y tế trong các đợt phun hóa chất phòng, chống dịch.

Bệnh Quai Bị: Nguyên Nhân, Triệu Chứng, Điều Trị Và Cách Phòng Ngừa / 2023

Quai bị là căn bệnh truyền nhiễm cấp tính, lây lan trực tiếp qua đường hô hấp. Bệnh có thể bùng phát thành dịch và gây ra nhiều biến chứng nguy hiểm như: viêm tinh hoàn, viêm buồng trứng, viêm não – màng não, viêm tụy, điếc tai,… Làm cách nào để có thể phòng ngừa bệnh quai bị hiệu quả, an toàn và tiết kiệm nhất?

Bài viết được sự tư vấn chuyên môn của chúng tôi Nguyễn Hiền Minh – Phó Giám đốc Y khoa Trung tâm tiêm chủng cho Trẻ em và Người lớn VNVC.

Quai bị là căn bệnh phổ biến ở nhiều quốc gia trên thế giới. Bệnh có tỷ lệ mắc cao ở những vùng dân cư đông đúc, điều kiện sống kém và nơi có khí hậu lạnh. Tại Việt Nam, bệnh quai bị tản phát quanh năm nhưng thường tập trung vào những tháng thu – đông ở các tỉnh miền Bắc và Tây Nguyên, với tỷ lệ mắc bệnh dao động trong khoản 10 đến 40 trường hợp trên 100 ngàn dân.

Tuy đã có vắc xin phòng bệnh quai bị, nhưng do việc tiêm vắc xin dự phòng chưa được phổ cập rộng rãi nên tỷ lệ mắc bệnh quai bị gần như không giảm trong vòng 10 năm trở lại đây. Tỷ lệ tử vong do quai bị rất thấp, nhưng nếu người bệnh chủ quan chậm trễ điều trị có thể khiến bệnh trở nặng và gây nên nhiều biến chứng khó lường.

Quai bị là căn bệnh phổ biến ở nhiều quốc gia trên thế giới, gây nhiều biến chứng khó lường

Nguyên nhân gây bệnh quai bị

Quai bị do virus paramyxo gây nên. Đây là chủng virus có khả năng tồn tại lâu ở môi trường bên ngoài cơ thể: từ 30 đến 60 ngày ở nhiệt độ 15 đến 20 độ C, từ 1 đến 2 năm ở nhiệt độ – 25 tới -70 độ C. Tuy nhiên, virus quai bị có thể diệt nhanh chóng ở nhiệt độ trên 56 độ C, dưới ánh sáng mặt trời, với những hóa chất khử khuẩn chứa Clo và các chất khử khuẩn bệnh viện thường dùng.

Con người là ổ chứa và nguồn truyền nhiễm duy nhất của bệnh quai bị. Bệnh lây lan trực tiếp qua đường hô hấp khi người lành hít phải các bụi nước chứa virus từ người bệnh. Sau khi xâm nhập vào cơ thể, virus bám vào niêm mạc mũi, miệng, di chuyển đến nội tạng thông qua đường máu, rồi gây bệnh. Người bệnh trong giai đoạn khởi phát có khả năng lây lan mạnh mẽ trong cộng đồng. Trong một số trường hợp, người mang virus quai bị không có triệu chứng rõ ràng (hay còn gọi là quai bị thể tiềm ẩn) vẫn có khả năng lây truyền bệnh cho những người xung quanh.

Thời gian ủ bệnh: thường kéo dài từ 2 đến 3 tuần, trung bình 18 ngày.

Thời kỳ lây truyền: virus quai bị có trong nước bọt của người bệnh trước khi khởi phát từ 3 đến 5 ngày và sau khởi phát từ 7 đến 10 ngày, khoản thời gian này chính là giai đoạn lây truyền của bệnh. Trong đó, một tuần xung quanh ngày khởi phát là thời gian lây truyền bệnh mạnh mẽ nhất. Ngoài trú ngụ trong nước bọt, virus quai bị còn có trong nước tiểu người bệnh trong vòng 2 tuần.

Các yếu tố làm tăng nguy cơ mắc bệnh quai bị

Bất cứ đối tượng nào cũng có nguy cơ mắc bệnh quai bị, từ trẻ em, thanh thiếu niên cho đến người lớn chưa có miễn dịch bảo vệ.

Một số yếu tố làm tăng nguy cơ mắc bệnh quai bị có thể kể đến như:

Độ tuổi: trẻ từ độ tuổi 2 đến 12, nhất là những trẻ chưa được tiêm vắc xin phòng ngừa bệnh quai bị;

Tiếp xúc, sống chung, sinh hoạt tập thể chung với người bệnh hoặc dùng chung đồ vật với người bệnh;

Người có hệ miễn dịch yếu.

Dấu hiệu và triệu chứng nhận biết bệnh quai bị

Triệu chứng của bệnh quai bị thường xuất hiện từ 2 đến 3 tuần sau khi bị nhiễm virus, sau đó giảm dần trong tuần tiếp theo. Sưng đau ở một hoặc cả hai tuyến nước bọt mang tai (ở vùng má và hàm) là triệu chứng đặc trưng nhất của bệnh. Tình trạng sưng đau có thể diễn biến nặng đến mức phần góc của xương hàm dưới mang tai không còn nhìn thấy được. Một bên mang tai có thể sưng trước bên kia và có khoản 25% người bệnh quai bị chỉ sưng một bên. Trong một số trường hợp ít gặp, các tuyến nước bọt ở hàm dưới và dưới lưỡi cũng có thể sưng đau.

Biến chứng của bệnh quai bị

Tuy lành tính, nhưng nếu không được điều trị đúng cách, bệnh quai bị có thể tiến triển nặng dẫn đến nhiều biến chứng nguy hiểm cho người bệnh, như:

Viêm tinh hoàn do quai bị: là một loại viêm tinh hoàn đặc hiệu có thể gặp ở trẻ em, thanh thiếu niên và cả người trưởng thành. Khi bệnh nhân gặp biến chứng viêm tinh hoàn quai bị, tinh hoàn sẽ sưng to hơn bình thường từ 2 đến 3 lần, đau vùng bìu, mào tinh dày bất thường, sốt cao và mệt mỏi. Sau khi gặp biến chứng viêm tinh hoàn quai bị, có đến 30% người bệnh bị teo tinh hoàn, ảnh hưởng lớn đến số lượng và chất lượng tinh trùng, gia tăng nguy cơ vô sinh.

Viêm buồng trứng do quai bị ở nữ giới chiếm tỷ lệ 7%. Người bệnh thường có các dấu hiệu như đau bụng âm ỉ hoặc đau từng cơn ở một bên hố chậu, sốt, ra nhiều khí hư bất thường, có mùi hôi, biến đổi về màu sắc. Nếu không được điều trị kịp thời và đúng cách, viêm buồng trứng do quai bị có thể tiến triển thành viêm buồng trứng mãn tính, dính buồng trứng, u nang ống dẫn trứng, u nang buồng trứng, mưng mủ buồng trứng, tắc vòi trứng, chất lượng trứng suy giảm gây ảnh hưởng đến khả năng sinh sản của nữ giới.

Điếc tai vĩnh viễn: Theo trung tâm kiểm soát và phòng ngừa dịch bệnh Hoa Kỳ, điếc tai do quai bị là một biến chứng rất hiếm gặp, với tỷ lệ gặp khoảng 2/10.000 trường hợp bệnh. Điếc tai thường xảy ra ở giai đoạn khởi phát của bệnh, do virus quai bị làm tổn thương ốc tai. Điếc tai do quai bị thường là điếc không hồi phục, ảnh hưởng nghiêm trọng đến chất lượng cuộc sống sau này của bệnh nhân. Hiện nay, chưa có biện pháp hữu hiệu để ngăn ngừa và điều trị biến chứng này, các bác sĩ chỉ có thể cấy ghép ốc tai để cải thiện thính lực cho người bệnh. Tuy nhiên, đây là phương pháp rất khó khăn và tốn kém.

Ngoài những biến chứng kể trên, bệnh quai bị còn có thể dẫn đến một số biến chứng khác hiếm gặp hơn như: viêm tụy, viêm cơ tim, viêm tuyến giáp, viêm đường hô hấp,… Đặc biệt, nếu phụ nữ có thai trong vòng 12 đến 16 tuần đầu thai kỳ mắc bệnh quai bị, tỷ lệ sảy thai là rất cao.

Phương pháp chẩn đoán và xét nghiệm

Nhìn chung, kết quả xét nghiệm đóng vai trò không lớn trong chẩn đoán bệnh quai bị, vì triệu chứng lâm sàng của bệnh khá điển hình. Thông thường, người bệnh quai bị được chỉ định làm xét nghiệm trong những trường hợp thật sự cần thiết hoặc phục vụ cho mục đích nghiên cứu.

Để phân lập virus, các bác sĩ sẽ lấy các mẫu bệnh phẩm của bệnh nhân như máu, nước bọt, dịch não tủy. Trong đó, máu và dịch não tủy được thu thập ở giai đoạn sớm trong khoảng từ 0 đến 7 ngày, hoặc muộn hơn từ 14 đến 21 ngày, để làm xét nghiệm tìm kháng thể IgM hoặc biến động hiệu giá kháng thể IgG.

Các phương pháp xét nghiệm bệnh quai bị thường được ứng dụng tại nước ta là:

CI – cố định bổ thể, NT – trung hòa đám hoại tử,

ELISA – miễn dịch gắn men có khả năng phát hiện kháng thể quai bị trong máu hoặc dịch não tủy,

IFA – miễn dịch huỳnh quang gián tiếp có khả năng phát hiện kháng nguyên và kháng thể đặc hiệu.

Phương pháp điều trị bệnh quai bị

Những thói quen sinh hoạt cùng các phương pháp hỗ trợ sau có thể giúp giảm triệu chứng của bệnh quai bị:

Nghỉ ngơi đầy đủ, tránh vận động mạnh.

Uống nhiều nước, tránh nước ép trái cây có vị chua làm kích thích tuyến nước bọt, làm tình trạng bệnh xấu đi.

Chườm lạnh có thể giúp xoa dịu cơn đau.

Chườm ấm và dùng thêm thuốc Paracetamol có thể giúp hạ sốt.

Giữ vệ sinh vòm họng bằng cách súc nước muối sinh lý, nước muối ấm hay nước súc miệng.

Ăn thức ăn mềm hoặc lỏng, chia nhỏ các bữa ăn trong ngày và cần tránh những loại thức ăn có tính axit xitric như cam, chanh, bưởi, những loại thức ăn cay, những loại thức ăn làm từ nếp và thịt gà. Ngoài ra, người bệnh cần bổ sung thêm những loại rau xanh, dưa đỏ.

Vệ sinh môi trường sống, làm thông thoáng nhà ở, tận dụng ánh sáng mặt trời.

Trong trường hợp viêm tinh hoàn, người bệnh cần mặc quần lót nâng tinh hoàn để giảm đau, dùng thêm corticoid liều cao ngay từ đầu, Prednisolon 60mg/ ngày, sau đó giảm dần trong 7 – 10 ngày. Cần tham khảo ý kiến bác sĩ điều trị trước khi sử dụng bất kỳ loại thuốc điều trị bệnh quai bị nào.

Phòng ngừa bệnh quai bị bằng cách nào?

Phương pháp hiệu quả, tiết kiệm và an toàn nhất để dự phòng bệnh quai bị là tiêm vắc xin đầy đủ và đúng lịch. Tất cả các đối tượng từ trẻ em, thanh thiếu niên, người trưởng thành chưa có miễn dịch cần tiêm chủng phòng ngừa bệnh quai bị. Trong tiêm chủng dịch vụ, Vắc xin 3 trong 1 MMR II (Mỹ) và MMR (Ấn Độ) là 2 loại vắc xin phòng ngừa bệnh Sởi – Quai bị – Rubella được lưu hành rộng rãi.

Lịch tiêm 2 mũi cho trẻ từ 12 tháng tuổi trở lên đến dưới 7 tuổi:

Mũi 1: lần tiêm đầu tiên.

Mũi 2: khi trẻ 4 – 6 tuổi, cách mũi 1 ít nhất 1 tháng.

Lịch tiêm 2 mũi cho trẻ từ 7 tuổi và người lớn

Mũi 1: lần tiêm đầu tiên.

Mũi 2: cách mũi 1 ít nhất 1 tháng.

Lưu ý: Trong những trường hợp đặc biệt, trẻ có thể tiêm phòng vắc xin Sởi – Quai bị – Rubella kết hợp từ khi 9 – 12 tháng tuổi. Tuy nhiên, chỉ tiêm cho trẻ độ tuổi này khi trẻ đang sống trong vùng có dịch mà chưa có miễn dịch kháng bệnh, khi có chỉ đạo của chương trình tiêm chủng mở rộng. Lúc này, mũi tiêm sớm nhất tiêm khi trẻ được 9 tháng tuổi, mũi thứ 2 vào lúc trẻ 15 – 18 tháng tuổi và mũi tiêm thứ 3 cách mũi tiêm trước từ 3 – 5 năm.

Phụ nữ nên hoàn tất lịch tiêm trước khi có thai ít nhất 3 tháng. Trong trường hợp lỡ tiêm vắc xin mới biết mình có thai, sản phụ nên thông báo ngay với bác sĩ sản khoa để được tư vấn và theo dõi thai kỳ. Việc tiêm vắc xin phòng bệnh Sởi – Quai bị – Rubella trong thai kỳ không phải là yếu tố tiên quyết để chấm dứt thai kỳ.

Trung tâm Tiêm chủng VNVC là địa chỉ vàng tiêm chủng được nhiều khách hàng tin tưởng và lựa chọn. VNVC có nhiều loại vắc xin phòng bệnh truyền nhiễm cho trẻ em và người lớn, trong đó có vắc xin phòng ngừa bệnh Sởi – Quai bị – Rubella. Bạn có thể hoàn toàn an tâm khi lựa chọn tiêm ngừa tại VNVC, vì tất cả những loại vắc xin được sử dụng trong Hệ thống đều có nguồn gốc rõ ràng, được nhập khẩu chính hãng từ các hãng dược hàng đầu thế giới và các công ty uy tín hàng đầu Việt Nam. Bên cạnh đó, đội ngũ bác sĩ và điều dưỡng viên của VNVC được huấn luyện bài bản, giàu kinh nghiệm và có chứng chỉ an toàn tiêm chủng.

Trần Phúc

BÀI VIẾT LIÊN QUAN

Bệnh Quai Bị Ở Trẻ: Nguyên Nhân, Triệu Chứng, Phòng Ngừa Và Điều Trị / 2023

Ở nước ta quai bị là căn bệnh phổ biến, dễ lây lan và thường bùng phát thành dịch. Tuy không gây nguy hiểm đến tính mạng nhưng để lại biến chứng vô cùng nguy hiểm như viêm tinh hoàn, viêm buồng trứng, viêm màng não, điếc tai…

Quai bị – căn bệnh nguy hiểm nhưng thường bị lãng quên?

Quai bị là căn bệnh không hề hiếm ở nước ta, theo ghi nhận, mỗi năm ở Việt Nam có hàng ngàn trường hợp mắc quai bị được ghi nhận. Tuy là căn bệnh nguy hiểm, chưa có thuốc đặc trị và có nhiều biến chứng phức tạp nhưng phần đông người dân thường lơ là, chỉ chữa bệnh khi mắc phải chứ không có ý thức cao trong việc phòng ngừa quai bị.

Quai bị là bệnh do virus Paramyxovirus gây nên. Bệnh chỉ xuất hiện ở người, thường gặp ở trẻ em dưới 15 tuổi, nhất là trẻ từ 6 – 10 tuổi. Bệnh thường phát vào mùa đông xuân, khi thời tiết bắt đầu chuyển lạnh, xuất hiện ở những nơi đông người như: nhà trẻ, trường học, ký túc xá, khu tập thể…

Bệnh lây lan chủ yếu qua đường hô hấp do nước bọt bị nhiễm trùng khi:

Hắt hơi hoặc ho.

Sử dụng cùng dao kéo và đĩa với một người bị nhiễm bệnh.

Chia sẻ đồ ăn thức uống với người bị nhiễm bệnh.

Hôn nhau.

Một người bị nhiễm bệnh chạm vào mũi hoặc miệng của họ và sau đó truyền nó lên một bề mặt mà người khác có thể chạm vào như uống chung ly nước…

Bệnh đã bắt đầu lây cho người tiếp xúc một tuần trước khi bệnh nhân xuất hiện triệu chứng sưng tuyến mang tai và có thể tiếp tục lây nhiễm 2 tuần sau đó, thời gian lây mạnh nhất vào khoảng 2 ngày trước khi viêm tuyến mang tai.

Tại Việt Nam, quai bị thường gây ra các vụ dịch vừa và nhỏ hoặc rải rác trên cả nước. Bệnh xảy ra quanh năm, tuy nhiên thường gặp hơn ở mùa thu – đông. Mặc dù là bệnh truyền nhiễm rất dễ lây lan nhưng quai bị khó phát hiện với những dấu hiệu giai đoạn khởi phát giống cảm cúm thông thường.

Giai đoạn này thường kéo dài từ 17 – 18 ngày, người bệnh không có nhiều triệu chứng biểu hiện nên có thể lây lan mầm bệnh cho nhiều người khác khi tiếp xúc mà không có biện pháp phòng ngừa.

Giai đoạn khởi phát của bệnh:

Sau 24-48 giờ khi khởi phát, trẻ sẽ có dấu hiệu viêm tuyến nước bọt hay còn gọi là tuyến mang tai. Đây là một triệu chứng thường gặp ở trẻ bị quai bị. Lúc đầu, trẻ sẽ có dấu hiệu sưng 1 bên mang tai, sau 1-2 ngày sẽ sưng lên bên còn lại. Trẻ bị quai bị thường sưng 2 bên tuyến mang tai, ít có trường hợp sưng 1 bên. Hai bên má bị sưng viêm sẽ không đối xứng, vùng da bị sưng căng bóng, sờ nóng, không đỏ, đau.

Trẻ đau hàm khi há miệng, nhai hoặc ăn phải những thức ăn có vị chua.

Nếu được chăm sóc tốt và điều trị kịp thời trẻ sẽ hoàn toàn khỏi bệnh trong vòng 10 ngày. Tuyến nước bọt cũng không bị sưng và không hóa mủ (trừ trường hợp bị nhiễm khuẩn và bội nhiễm).

Biến chứng nguy hiểm của bệnh quai bị

Trẻ em mắc bệnh quai bị ít gặp biến chứng nguy hiểm hơn so với người lớn, song có thể ảnh hưởng lâu dài đến tuổi trưởng thành.

Các biến chứng thường thấy của bệnh quai bị bao gồm:

Nếu một phụ nữ mang thai bị quai bị trong 12-16 tuần đầu của thai kỳ, thai phụ sẽ có nguy cơ sảy thai cao.

Ngoài ra, quai bị còn có thể gây ra các biến chứng khác hiếm gặp như:

Viêm tụy: Đây là một biểu hiện nặng của quai bị, bệnh nhân bị đau bụng nhiều, ói, có khi tụt huyết áp, điều này xảy ra ở 1 trên 20 trường hợp và thường ở dạng nhẹ.

Viêm cơ tim, viêm tuyến giáp, viêm đường hô hấp thường ít gặp hơn nhưng vẫn có thể xảy ra đặc biệt đối với những người có phương pháp điều trị sai lầm.

Các kỹ thuật y tế để chẩn đoán bệnh quai bị hiện nay

Trước khi đưa ra các phương pháp điều trị bệnh quai bị, thông thường bệnh nhân sẽ được chỉ định làm các xét nghiệm lâm sàng như xét nghiệm máu, xét nghiệm dịch lấy từ mũi hoặc cổ họng để việc chẩn đoán được chính xác hơn.

Xét nghiệm quai bị là xét nghiệm nhầm mục đích xác định chủng di truyền của virus hoặc xác định khả năng miễn dịch của cơ thể với virus quai bị thông qua kháng thể đặc trưng.

Bên cạnh đó, việc xét nghiệm quai bị sẽ cho biết người bệnh đã từng nhiễm bệnh này hay chưa, xác định khả năng miễn dịch của cơ thể với virus quai bị và theo dõi tiến triển của bệnh để tìm ra phương pháp điều trị thích hợp.

Khi nào bố mẹ cho trẻ mắc bệnh quai bị đi khám bác sĩ?

Bệnh quai bị rất dễ lây lan thành dịch trong khoảng 9 ngày sau khi các triệu chứng xuất hiện. Do đó, khi trẻ có những dấu hiệu nghi ngờ mắc bệnh quai bị, phụ huynh nên cho trẻ đến trung tâm y tế hoặc bệnh viện để được thăm khám và điều trị để tránh lây lan ra cộng đồng:

Bé sốt hơn 3 ngày;

Tuyến nước bọt sưng kéo dài hơn 7 ngày (trong nhiều trường hợp bên mang tai trẻ sẽ sưng sau một hai ngày);

Bé có biểu hiện sưng, đau đớn nhiều hơn;

Bé có những hành vì và biểu hiện thể chất không bình thường;

Bé bị co giật;

Không chịu ăn, uống;

Bé có biểu hiện mất nước…

Phụ huynh có bất kỳ thắc mắc nào, hãy tham khảo ý kiến bác sĩ để có phương pháp điều trị tốt nhất cho trẻ.

Hướng dẫn cách điều trị, chăm sóc trẻ em bị quai bị tại nhà

Hiện nay vẫn chưa có thuốc đặc trị bệnh quai bị mà chủ yếu là điều trị triệu chứng và nâng đỡ cơ thể, nằm nghỉ tuyệt đối khi có sưng tinh hoàn, cách ly bệnh nhân ít nhất 10 – 15 ngày từ khi phát hiện bệnh.

Điều trị hiện tại chỉ có thể giúp làm giảm các triệu chứng cho đến khi nhiễm trùng diễn ra và cơ thể đã hình thành khả năng miễn dịch, giống như cảm lạnh. Trong hầu hết các trường hợp, trẻ có thể phục hồi trong vòng 2 tuần.

Một số bước có thể được thực hiện để giúp giảm các triệu chứng của bệnh quai bị:

Cho trẻ uống nhiều nước, tránh nước ép trái cây vì chúng kích thích sản xuất nước bọt, có thể gây đau.

Chườm lạnh trên vùng bị sưng để giảm bớt cơn đau.

Ăn thức ăn mềm hoặc lỏng (cháo, súp) vì nhai có thể gây đau. Tránh những loại thức ăn có tính axit xitric như cam, chanh, bưởi (những loại quả này có thể khiến bệnh thêm trầm trọng). Bổ sung những loại rau xanh, dưa đỏ và xoài cho trẻ. Tránh những thực phẩm chế biến sẵn, nhiều dầu mỡ vì có thể khiến bệnh càng trầm trọng hơn,

Nghỉ ngơi đầy đủ.

Súc miệng bằng nước muối ấm, nước muối sinh lý hay nước súc miệng.

Không nên tự ý dùng các loại thuốc uống, bôi đắp lên vùng bị sưng khi chưa có chỉ định của bác sĩ để tránh nhiễm độc.

Hạ sốt bằng Paracetamol. Trường hợp viêm tinh hoàn, cần mặc quần lót nâng tinh hoàn để giảm đau và dùng corticoid liều cao ngay từ đầu, thường dùng Prednisolon 60mg/ ngày, sau đó giảm dần trong 7 – 10 ngày.

Tránh để trẻ vận động, chạy nhảy nhiều vào những ngày bệnh đang diễn tiến cấp tính.

Lưu ý: tuyệt đối không dùng các phương pháp điều trị kiểu mê tín dị đoan, truyền miệng, không đắp vôi lá cây lên vùng sưng của trẻ làm nóng, phỏng vùng sưng. Lúc này, vi trùng dễ xâm nhập và gây ra biến chứng viêm tuyến mang tai. Trẻ trong tình trạng này, nếu không được điều trị kịp thời sẽ dễ bị tử vong. Những cách điều trị này chẳng những không thể chữa khỏi bệnh mà còn gây hại cho trẻ.

Quai bị có thể phòng tránh bằng các nào?

ThS.BS Nguyễn Hiền Minh, Phó Giám đốc Y khoa Hệ thống tiêm chủng VNVC cho biết: “Cách tốt nhất để phòng ngừa quai bị là tiêm vắc xin phòng bệnh. Hầu hết mọi người đều có khả năng miễn dịch với quai bị nếu được tiêm phòng đầy đủ”. Vắc xin quai bị thường được tiêm dưới dạng tiêm kết hợp sởi-quai bị-rubella (MMR II).

Tất cả trẻ em và người lớn đều nên chủ động tiêm vắc xin MMR II để phòng ngừa sởi, quai bị, rubella. Tuy nhiên, vì là vắc xin sống giảm động lực nên vắc xin MMR II không được tiêm cho phụ nữ đã biết mình có thai. Trong trường hợp đã lỡ tiêm mới biết mình có thai, mẹ bầu nên thông báo với bác sĩ sản khoa để được tư vấn chăm sóc và theo dõi thai kỳ phù hợp. Việc đã lỡ tiêm MMR II trong thai kỳ không phải là yếu tố tiên quyết để chấm dứt thai kỳ.

Video đề xuất:

Phác đồ tiêm vắc xin MMR II phòng sởi, quai bị, rubella có sự khác nhau giữa các độ tuổi:

Với trẻ từ 12 tháng tuổi đến 7 tuổi:

Mũi 1 là lần tiêm đầu tiên

Mũi 2 khi trẻ 4-6 tuổi hoặc sớm hơn nếu có dịch xảy ra. Mũi 2 cách mũi 1 ít nhất 1 tháng

Với trẻ từ 7 tuổi trở lên và người lớn:

Mũi 1 là lần tiêm đầu tiên

Mũi 2 cách mũi 1 ít nhất 1 tháng

Riêng với phụ nữ, nên hoàn tất phác đồ tiêm chủng vắc xin phòng sởi, quai bị, rubella trước khi mang thai ít nhất 3 tháng.

Những loại thực phẩm mà trẻ bị quai bị nên và không nên ăn?

Khi trẻ mắc bệnh quai bị, ngoài thực hiện đúng phác đồ điều trị của bác sĩ, phụ huynh nên lựa chọn cho trẻ chế độ ăn uống cân bằng khoa học giúp trẻ bình phục nhanh hơn.

Trẻ mắc bệnh quai bị nên ăn gì?

Trong giai đoạn này, hệ tiêu hóa của trẻ hoạt động dễ bị “lỗi nhịp”, khó tiêu hóa thức ăn dẫn đến trẻ không hấp thu được nhiều chất dinh dưỡng. Khắc phục tình trạng này, phụ huynh nên chia nhỏ bữa ăn và phân chia liều lượng thức ăn sao cho phù hợp. Trong trường hợp trẻ có dấu hiệu thuyên giảm, phụ huynh không nên vội vàng chuyển sang ăn những loại thực phẩm thô, cứng mà phải duy trì cách ăn như hiện tại đến lúc bệnh khỏi hẳn để không ảnh hưởng đến hệ tiêu hóa.

Một số món ăn được chế biến từ đậu phụ huynh có thể dùng cho trẻ trong thời gian trẻ bị bệnh gồm: Canh đậu hũ non rong biển, cháo đậu xanh, sữa đậu xanh, sữa đậu nành…

Những thực phẩm chế biến từ rau xanh: Rau xanh rất giàu vitamin A, vitamin C, sắt, chất xơ có lợi cho hệ tiêu hóa của trẻ. Trẻ mắc bệnh quai bị hệ tiêu hóa thường gặp nhiều vấn đề, ăn uống khó tiêu, do đó bổ sung rau xanh cho trẻ là một trong những vấn đề hết sức cần thiết. Cùng với đó, phụ huynh nên cho trẻ ăn các loại trái cây có lợi cho sức khỏe.

Trẻ mắc bệnh quai bị nên kiêng gì?

Trong thời gian mắc bệnh phụ huynh không nên cho trẻ ăn một số loại thực phẩm tránh trường hợp làm cho tuyến nước bọt sưng đau trầm trọng hơn:

Thịt gà: Tuy là món ăn mang lại nhiều giá trị dinh dưỡng cho cơ thể nhưng đối với trẻ mắc bệnh quai bị, phụ huynh nên kiêng vì đây là món ăn cứng, khi nhai trẻ sẽ phải hoạt động cơ hàm nhiều gây đau đớn, hơn nữa đây còn là thực phẩm khó tiêu không tốt cho trẻ.

Thức ăn từ gạo nếp: Những món ăn làm từ gạo nếp được các chuyên gia khuyến cáo không nên dùng cho trẻ mắc bệnh quai bị , bởi nó làm cho quai hàm sưng to hơn, gây đau đớn khó chịu cho trẻ.

Các biện pháp chủ động phòng ngừa bệnh quai bị

Quai bị là căn bệnh dễ lây lan, khả năng bùng phát thành dịch rất cao, do đó khi trẻ có những dấu hiệu mắc bệnh phụ huynh nên cho trẻ nghỉ học, không đến những nơi đông người, cho trẻ sử dụng riêng các vật dụng cá nhân, đeo khẩu trang khi chăm sóc trẻ.

Cho trẻ tắm nước ấm bình thường, bởi vệ sinh sạch sẽ còn giúp tiêu diệt được vi khuẩn.

Trong thời gian mắc bệnh, phụ huynh nên chăm sóc trẻ cẩn thận, cho trẻ nghỉ ngơi nhiều để giảm đau. Đặc biệt, khi thấy tinh hoàn có hiện tượng sưng đau, phụ huynh nên đưa trẻ đến bệnh viện để được sự trợ giúp kịp thời của bác sĩ, tránh trường hợp gặp biến chứng viêm tinh hoàn, teo tinh hoàn và có thể dẫn đến vô sinh.

Là một loại vắc xin sống giảm độc lực nên vắc xin MMR II cần được bảo quản lạnh theo đúng quy trình trong khoảng nhiệt độ từ 2 – 8 độ C, không được để đóng băng dung môi… Khi đó, chất lượng vắc xin mới được đảm bảo.

Đặc biệt, tất cả người tiêm vắc xin MMR II đều cần được khám sàng lọc trước tiêm và theo dõi sức khỏe sau tiêm để hạn chế tối đa những phản ứng phụ có thể xảy ra. Vắc xin MMR II chống chỉ định cho những người có tiền sử dị ứng với bất cứ thành phần nào của vắc xin, phụ nữ có thai, người đang mắc các bệnh lý như lao, nhiễm trùng, suy giảm miễn dịch…

Do đó, để đạt được hiệu quả chủng ngừa tốt nhất, mỗi người khi đi chích ngừa vắc xin MMR II phòng sởi, quai bị, rubella nên lựa chọn các trung tâm tiêm chủng uy tín, có kiểm tra sức khỏe sàng lọc trước và sau tiêm, vắc xin được bảo quản nghiêm ngặt theo đúng tiêu chuẩn để có hiệu quả chủng ngừa tốt nhất.

Để đăng ký tiêm vắc xin MMR II phòng sởi – quai bị – rubella, khách hàng có thể điền thông tin trực tuyến hoặc gọi đến tổng đài 028.7300.6595 để được tư vấn và hướng dẫn.

Hệ thống trung tâm tiêm chủng VNVC: /he-thong-trung-tam-tiem-chung/

Châu Bùi

BÀI VIẾT LIÊN QUAN

Bạn đang xem bài viết Thủy Đậu: Triệu Chứng, Cách Chăm Sóc Và Phòng Bệnh / 2023 trên website Kichcauhocvan.net. Hy vọng những thông tin mà chúng tôi đã chia sẻ là hữu ích với bạn. Nếu nội dung hay, ý nghĩa bạn hãy chia sẻ với bạn bè của mình và luôn theo dõi, ủng hộ chúng tôi để cập nhật những thông tin mới nhất. Chúc bạn một ngày tốt lành!