Xem Nhiều 11/2022 #️ Một Số Biện Pháp Giúp Giảm Đau Cơ / 2023 # Top 14 Trend | Kichcauhocvan.net

Xem Nhiều 11/2022 # Một Số Biện Pháp Giúp Giảm Đau Cơ / 2023 # Top 14 Trend

Cập nhật thông tin chi tiết về Một Số Biện Pháp Giúp Giảm Đau Cơ / 2023 mới nhất trên website Kichcauhocvan.net. Hy vọng nội dung bài viết sẽ đáp ứng được nhu cầu của bạn, chúng tôi sẽ thường xuyên cập nhật mới nội dung để bạn nhận được thông tin nhanh chóng và chính xác nhất.

Đau nhức cơ thường rất dai dẳng, đặc biệt là nó gây mệt mỏi, ngại vận động, chỉ muốn nằm, ngủ hay nghỉ ngơi. Thực tế, bạn có thể giảm nhẹ tình trạng này bằng những cách dưới đây.

1. Tắm nước nóng với vòi hoa sen

Nước nóng từ vòi tắm hoa  sen sẽ “rửa trôi” những nhức mỏi của cơ bắp, xoa dịu những cơn đau. Hãy mát xa các cơ bắp đau nhức đó vài phút sau khi tắm nước nóng.

Tắm trong bồn nước nóng cũng có tác dụng tương tự. Có thể cho thêm ít tinh dầu oải hương, muối hay dầu tắm để thư giãn và giảm đau cơ.

2. Mát xa

Hãy nhờ bạn đời mát xa những vùng cơ bắp đang đau mỏi với hướng chuyển động theo vòng tròn. Mát xa các cơ bắp đau nhức sẽ giúp thư giãn và giảm đau.

Bạn cũng có thể tự mát xa nếu không có ai giúp bằng cách dùng bàn tay xoay vòng tròn trên vùng đau nhức.

3. Kéo giãn cơ bắp bị đau nhức

Kéo giãn nhẹ nhàng các cơ bắp đang nhức mỏi có thể giúp giảm đau.

Các cơ bắp thường đau nhức do vận động quá mức. Sự kéo căng cơ sẽ giúp thư giãn các cơ đang bị co rút.

Hãy thực hiện việc căng cơ thật nhẹ nhàng và không nên cố gắng quá.

4. Ăn nhiều chuối

Chuối giúp ngăn ngừa chứng chuột rút và giảm đau cơ vì chúng chứa kali.

Thông thường, khi luyện tập, lao động, các khoáng chất như kali, ma-giê các chất điện phân khác sẽ bị mất đi. Ăn chuối sẽ giúp bổ sung các vi chất quan trọng này, giúp giảm thiểu tình trạng đau cơ.

5.Ăn gừng sống hoặc gừng nấu chín

Nghiên cứu của các nhà khoa học thuộc Đại học Georgia (Mỹ) cho thấy, ăn gừng sống hoặc gừng nấu chín có thể giúp giảm đau cơ bắp sau khi tập thể dục nhiều. Để rút ra kết luận trên, nhóm nghiên cứu đã khảo sát trên các tình nguyện viên, được chia làm 3 nhóm.

Nhóm dùng gừng sống, gừng đã nấu chín và nhóm dùng giả dược. Kết quả là ở nhóm dùng gừng sống và gừng chín, tình trạng đau cơ sau khi tập thể dục lần lượt giảm 25% và 23%. Các chuyên gia cho rằng nguyên do là trong gừng có đặc tính chống viêm sưng và giảm đau. Trong một cuộc nghiên cứu khác, những người bị viêm khớp xương mãn tính dùng gừng hằng ngày (30-50 mg) trong suốt 4-36 tuần đã giảm đau khớp.

6.Uống cà phê

Cà phê giúp giảm đau cơ do tập thể dục. Một đến hai tách cà phê có thể giúp xoa dịu những cơn đau nhức cơ dữ dội sau khi tập thể dục, nguyên nhân làm nản lòng một số người mới lần đầu rèn luyện thể lực.

Theo các khoa học gia ở Đại học Georgia (Mỹ), chất caffeine trong cà phê có thể không có tác dụng giảm đau đối với những người uống cà phê thường xuyên do cơ thể họ bị “lờn” caffeine.

Nghiên cứu được thực hiện đối với 9 sinh viên đại học không thuộc dạng “ghiền” cà phê cũng không thường tập thể dục. Những ai dùng caffeine với liều lượng vừa phải – tương đương 2 tách cà phê – khoảng 1 giờ trước những bài tập đòi hỏi vận động cơ bắp nhiều, bị đau ít hơn 30-50% so với những người không uống. Các nhà nghiên cứu cho rằng chất caffein có thể có tác dụng ức chế cơ quan thụ cảm adenosine – hóa chất được cơ thể tiết ra để phản ứng với tình trạng viêm nhiễm.

7. Uống nước

Nước là một nguồn dinh dưỡng quý giá giúp chống mệt mỏi và đau nhức cơ bắp. Thỉnh thoảng, khi bạn tập luyện, làm việc quá sức, cơ thể sẽ có xu hướng bị “háo nước”. Uống 6-8 ly nước mỗi ngày sẽ giúp ngăn ngừa tình trạng khử nước và bổ sung cho cơ thể chất “bôi trơn” giúp các múi cơ không bị quá tải.

Nên đặc biệt uống nhiều nước nếu tập luyện hay làm việc trong thời tiết nóng bức.

8. Nghỉ ngơi

Mặc dù bạn có quá nhiều việc phải làm trong ngày nhưng điều quan trọng là phải cho các cơ bắp nghỉ ngơi, nếu không muốn nó bị đau nhức, mỏi mệt.

Cơ bắp đau nhức là sự cảnh báo của cơ thể, một tín hiệu cho thấy nó muốn được nghỉ ngơi. Hãy lắng nghe cơ thể và thư giãn ít nhất nửa tiếng hoặc nhiều hơn. Một giấc ngủ trưa cũng sẽ rất hữu ích.

Theo Theo LiveScience

Máy mát xa xung điện Omron

Máy mát xa xung điện HV- F127 ,tiện dụng và giảm đau cơ và đau dây thần kinh hiệu quả.

Tính năng nổi bật:

Dải tần số rộng từ 1 tới 1.200 Hz.

Có thể mát xa ở vai, lưng, khớp, tay / chân và lòng bàn chân.

Có thể điều chỉnh cường độ và tốc độ mát xa.

Có chức năng phân cực để kích thích ở một vùng cụ thể, làm giảm đau nhanh.

Điện cực có tuổi thọ cao và có thể rửa được.

Tự động tắt điện sau 15 phút.

9 chương trình mát xa tự động

4 chế độ mát xa đặc biệt

Omron – Chăm sóc sức khỏe gia đình bạn

Một Số Biện Pháp Giúp Học Sinh Yêu Thích Môn Lịch Sử Ở Trường Thcs / 2023

Một số biện pháp giúp học sinh yêu thích môn Lịch sử ở trường THCS

MỘT SỐ BIỆN PHÁP GIÚP HỌC SINH YÊU THÍCH MÔN LỊCH SỬ Ở TRƯỜNG THCS A. PHẦN MỞ ĐẦU I. MỤC ĐÍCH CỦA ĐỀ TÀI : Hiện nay, các trường phổ thông đang phải đối mặt với tình trạng học sinh chán Sử, ghét Sử. Đó là một thực tế đáng suy ngẫm. Làm sao để biến giờ Sử khô khan thành một giờ học hấp dẫn, cuốn hút, khiến học sinh yêu thích môn học này là trăn trở có lẽ không chỉ của giáo viên môn Lịch sử. Từ trong bản chất, con người là động vật khát khao hiểu biết. Sự hiểu biết sẽ trở thành mục đích cho chính nó. Muốn làm được điều đó thì người dạy phải có những biện pháp giúp học sinh yêu thích môn Lịch sử ở trường THCS nói riêng và các trường phổ thông nói chung. Điều quan trọng và cần thiết nhất là luôn tạo cho các em niềm khát khao tìm hiểu, biết tự đánh giá và nhận xét khách quan các sự kiện hay nhân vật lịch sử nào đó, khiến các em đam mê thực sự chứ không bị gò bó hay ép buộc bởi bất cứ một lí do nào. II. CƠ SỞ THỰC TIỄN : Trong cuộc sống kinh tế thị trường ngày nay khi hầu hết các giá trị đều qui đổi thành hàng hóa tiền bạc và lợi nhuận thì kiến thức từ các môn tự nhiên được phụ huynh và học sinh hết sức đề cao. Ngược lại các môn khoa học xã hội, đặc biệt các “môn phụ” như Sử, Địa… thì học sinh chỉ học cho qua loa đại khái thậm chí còn cảm thấy “chán ngán” nếu như giáo viên dạy môn đó không cải tiến phương pháp, dạy theo lối truyền thống “đọc-chép”. Câu hỏi ” Học lịch sử để làm gì?” cũng sẽ được qui về giá trị lợi ích mà nó đem lại. Điều này cũng được phản ánh rõ nét nhất bằng các kì thi tốt nghiệp THPT và kì thi ĐH, Cao đẳng những năm gần đây, số học

Giáo viên: Lê Ngọc Khánh Tổ: Sử-GD-KTPV

Trường THCS Hòa Bình Thạnh -1Năm học 2013-1014

Một số biện pháp giúp học sinh yêu thích môn Lịch sử ở trường THCS sinh được điểm không môn lịch sử ngày càng nhiều là điều chúng ta dễ hiểu. Ở các trường THCS nói chung ,đa số học sinh còn lười học và chưa có sự say mê môn học Lịch sử, ngay cả khi hỏi đến những mốc quan trong nhất của lịch sử dân tộc nhiều em cũng không trả lời được, khi được giải đáp về câu hỏi đó thì cũng không hiểu gì về sự kiện lịch sử ấy. Việc gây hứng thú học tập cho học sinh nói chung, giúp học sinh yêu thích môn Lịch sử nói riêng không phải lúc nào cung được chú ý thường xuyên. Đây không phải là vấn đề mới nhưng để thực hiện tốt không dễ. Làm thế nào để học sinh yêu thích môn Lịch sử? Làm thế nào để Lịch sử trở thành bộ môn được học sinh coi trọng như các môn học khác chính là vấn đề đặt ra với mỗi giáo viên mỗi trường học, mỗi cấp học hiện nay. Bởi vậy trong khuôn khổ sáng kiến kinh nghiệm này tôi mạnh dạn đặt ra vấn đề và bước đầu đề xuất ra những biện pháp nhằm nâng cao chất lượng giờ học Lịch sử cũng như giúp học sinh yêu thích môn học này hơn nữa. B. NỘI DUNG I. THỰC TRẠNG DẠY VÀ HỌC LỊCH SỬ Ở TRƯỜNG THCS : 1. Về phía giáo viên : Đa số giáo viên coi môn này là môn phụ, học xong chỉ kiểm tra đơn thuần không tổ chức thi vượt cấp do đó sự tâm huyết với môn sử của đại đa số giáo viên dạy môn này còn ít. Sự chuẩn bị chu đáo cho bài dạy chỉ tập trung ở tiết thanh tra, thao giảng mà thôi. 2. Về phía phụ huynh và học sinh : – Học sinh không thích học môn lịch sử vì cho rằng đó chỉ là môn phụ không quan trọng, nội dung kiến thức quá dài, khó nhớ, nhiều sự kiện – Phụ huynh : Nếu con em mình chọn thi môn lịch sử trong các kì thi học sinh giỏi, Đại học, Cao đẳng…thì đại đa số phụ huynh học sinh đều phản đối kịch liệt vì cho rằng không thực tế, ra trường khó xin việc… Giáo viên: Lê Ngọc Khánh Tổ: Sử-GD-KTPV

Trường THCS Hòa Bình Thạnh -2Năm học 2013-1014

Một số biện pháp giúp học sinh yêu thích môn Lịch sử ở trường THCS 3. Nguyên nhân của thực trạng trên : Trong điều kiện nền kinh tế thị trường đang phát triển, trước tác động ngày càng mạnh của xu thế toàn cầu hóa, chúng ta đang gặp nhiều khó khăn trở ngại do chất lượng và hiệu quả giáo dục đào tạo còn thấp hơn so với yêu cầu. Hơn thế nữa, khi hội nhập toàn cầu sẽ có nhiều cái mới, nhiều nét văn hóa khác biệt du nhập và ảnh hưởng đến nước ta. Nếu không khéo lựa chọn, không có bản lĩnh để tiếp thu tinh hoa, loại bỏ những mặt trái, những tiêu cực sẽ là một thảm họa lớn với nền văn hóa dân tộc. Và tất nhiên khi văn hóa bị lai căng, xuống dốc, bản sắc dân tộc sẽ không còn. Thực tế này đang dần hiển hiện trong lối sống, cách ứng xử hiện nay và cả trong môn Lịch sử những năm gần đây đặc biệt là năm 2012 vừa qua, điểm thi môn Lịch sử trong các kì thi quá thấp đã đặt ra cho chúng ta một vấn đề: Vì sao lại như vậy? Có rất nhiều nguyên nhân dẫn đến học sinh không yêu thích môn Lịch sử. Theo cá nhân tôi thì do những nguyên nhân sau: – Nguyên nhân quan trọng hàng đầu và trước tiên là sự đối xử không công bằng đối với môn Lịch sử trong chương trình giảng dạy của hệ thống giáo dục phổ thông, trong khi chúng ta đều biết và đều coi Toán, Lí, Hóa, Văn, Sử, Địa là những môn khoa học có vị trí vai trò ngang nhau ở các cấp học phổ thông thì thời gian học môn Lịch sử chỉ được bố trí từ 1-1,5 tiết/ tuần trong khi môn Văn, Toán là 4 đến 5 tiết/tuần. Hay là trong nhà trường hạn chế tối đa môn Toán, Văn có tiết 5 trong mỗi buổi học thay vào đó là môn Sử, GDCD…Sự đối sử bất bình đẳng đó kéo dài trong nhiều năm dần dà làm nảy sinh trong thầy cô và học trò một lối ứng xử ngầm phi văn bản là xem môn Sử là môn học phụ. – Nguyên nhân thứ hai ảnh hưởng rất lớn đến việc học môn Lịch sử giảm sút là chế độ thi cử. Các trường Đại học quân sự trước đây bắt buộc thi môn Lịch sử, những năm gần đây đã bỏ hẳn. Các trường Đại học An Ninh ngày trước cũng bắt buộc thi môn Lịch sử giờ đây chỉ còn một ít chỉ tiêu khối C còn lại nhường chỗ cho khối A. các trường Luật, Báo chí, Văn Giáo viên: Lê Ngọc Khánh Tổ: Sử-GD-KTPV

Trường THCS Hòa Bình Thạnh -3Năm học 2013-1014

Một số biện pháp giúp học sinh yêu thích môn Lịch sử ở trường THCS Hóa trước đây thi khối C hiên nay chỉ tiêu khối A, D còn nhiều hơn. Thi đầu vào cấp III, ngoài đầu vào Toán, Văn là bắt buộc thì môn thứ ba rơi tự do nhưng môn Sử ở tỉnh An Giang tôi thấy chỉ được thi vài năm. Chính vì vậy qua tiếp xúc trao đổi với học sinh, tìm hiểu các em cũng như các bậc phụ huynh tôi hiểu rằng: không phải các em không thích học mà là không muốn học các môn khoa học xã hội chứ không riêng gì môn Lịch sử đơn giản chỉ vì các môn học này không phải là phương tiện để giúp các em kiếm sống dễ dàng trong xã hội ngày nay. – Nguyên nhân thứ ba có thể nói xuất phát chủ yếu từ 2 nguyên nhân trước. Đó là hầu hết giáo viên dạy môn Lịch sử cấp THCS đều được đào tạo 2 chuyên môn như Văn – Sử; Sử – GDCD … Chính vì thế những giáo viên này đều chú trọng vào môn Ngữ văn. Mặt khác thái độ “phân biệt” với môn Lịch sử dẫn đến tiết dạy ít được đầu tư nên không gây hứng thú với học sinh. Từ đó kết quả bộ môn thấp là không thể tránh khỏi. – Nguyên nhân thứ tư: Cách viết sách giáo khoa môn Lịch sử hiện nay chưa thực sự hấp dẫn với người học bời lối viết dài, cứng nhắc, quá nhiều sự kiện. – Một nguyên nhân nữa khiến học sinh chưa yêu thích học môn Lịch sử là công tác tuyên truyền trong và ngoài nhà trường chưa thực sự quan tâm mạnh mẽ. Đa số các trường đều chưa tổ chức cho học sinh tham quan thực tế, các buổi ngoại khóa tìm hiểu kiến thức lịch sử, do đó mà hầu hết các em đều “ngoảnh lưng” với môn học này. II. MỘT SỐ BIỆN PHÁP GIÚP HỌC SINH YÊU THÍCH MÔN LỊCH SỬ : 1. Thay đổi cách nhận thức về môn học này : – Giáo viên và học sinh coi môn Lịch sử là một môn khoa học. Muốn vậy người thầy phải luôn luôn nghiêm túc với tiết dạy Lịch sử. Thường ở trường THCS giáo viên dạy Văn thì đi đôi với dạy Sử, Địa…do đó giáo viên chỉ coi trọng môn Văn còn môn Sử thì dạy cho hết giờ rồi thôi. Giáo viên: Lê Ngọc Khánh Tổ: Sử-GD-KTPV

Trường THCS Hòa Bình Thạnh -4Năm học 2013-1014

Giáo viên: Lê Ngọc Khánh Tổ: Sử-GD-KTPV

Trường THCS Hòa Bình Thạnh -5Năm học 2013-1014

Một số biện pháp giúp học sinh yêu thích môn Lịch sử ở trường THCS có các trò chơi phù hợp, ví dụ các trò chơi: Nhận diện lịch sử, giải ô chữ lịch sử, sưu tầm và thuyết minh về những hình ảnh lịch sử, trả lời nhanh… Theo báo cáo của trung tâm nghiên cứu kĩ thuật của Mỹ vào năm 1993: ” Con người lưu lại trong bộ nhớ được khoảng 20% những gì họ thấy và khoảng 30% những gì họ nghe và con số này có thể lên đến 80% nếu họ thấy và nghe sự vật, hiện tượng một cách đồng thời”. Qua những số liệu này và quá trình giảng dạy thực tế ở trường phổ thông có thể thấy việc dạy học Lịch sử chỉ với những phương tiện truyền thông như bảng đen, lời nói của thầy cô giáo và một ít phương tiện dạy học mang tính tĩnh( Bản đồ, tranh ảnh, sơ đồ…) chắc chắn mức độ ghi nhớ sẽ không cao và nhanh quên. Trong khi đó nếu học sinh được xem phim tư liệu, bản đồ, sơ đồ động( được thực tế theo logic sự kiện) tranh ảnh, màu sắc sinh động, kết hợp với lời nói của giáo viên thì khả năng ghi nhớ của các em sẽ tăng lên. Không những thế nếu làm được điều này chúng ta sẽ tạo lên được bầu không khí học tập sinh động, khơi gợi hứng thú học tập cho các em, đồng thời khắc sâu những kiến thức mà các em tiếp thu được. Nói như vậy không có nghĩa là chúng ta gạt bỏ phương pháp dạy học truyền thống mà là ” kê thừa” phát triển mặt tích cực của hệ thống phương pháp dạy học đồng thời cần phải học hỏi, vận dụng những phương pháp dạy học mới theo hướng tích cực khắc phục những vấn đề mà phương pháp dạy học cũ còn nhiều vấn đề chưa phù hợp. 3. Khơi dậy niềm yêu thích môn Lịch sử ở học sinh : Môn học lịch sử không chỉ trang bị kiến thức mà còn khơi dậy niềm tự hào dân tộc ở người học, cung cấp cho họ nền tảng văn hóa – điều rất cần thiết trong thời kì đất nước đang hội nhập sâu rộng với quốc tế. Hiện nay, môn học này đã được quan tâm đầu tư đúng mức hay chưa, là điều mà dư luận đang đặt nhiều tranh cãi. Nhất là khi có không ít học sinh không còn yêu thích, hào hứng với việc học lịch sử.

Giáo viên: Lê Ngọc Khánh Tổ: Sử-GD-KTPV

Trường THCS Hòa Bình Thạnh -6Năm học 2013-1014

Một số biện pháp giúp học sinh yêu thích môn Lịch sử ở trường THCS “Học Lịch sử để làm gì?”, “Lịch sử có ích gì cho cuộc sống của học sinh?”. “Khi đưa ra câu hỏi này nhiều người sẽ trả lời ngay: “Học Lịch sử để yêu nước”, “giữ gìn truyền thống”, “để rút ra bài học trong quá khứ”…. Những câu trả lời này không sai nhưng theo tôi nó là sản phẩm thể hiện tư duy nhìn từ góc độ “quốc gia”. Trên thực tế, con người hành động vì lợi ích. Lợi ích càng cụ thể, thiết thực thì hành động càng mạnh mẽ. Giáo dục Lịch sử muốn thu hút được sự quan tâm, chú ý của người học thì nó phải đem lại lợi ích mà người học nhìn thấy và hưởng thụ trực tiếp”. Chính vì vậy, khi dạy Lịch sử, bên cạnh các lợi ích nhìn từ góc độ quốc gia, cũng rất chú ý đến những lợi ích nhìn từ góc độ cá nhân – công dân. Xét ở góc độ này, giáo dục lịch sử phải góp phần giúp học sinh cải thiện được giao tiếp của bản thân đối với gia đình (nhiều thế hệ), cộng đồng xung quanh (địa phương, những người trong một nước và những người đến từ nền văn hóa khác). Giáo dục lịch sử cũng phải giúp học sinh nhận thức được hiện thực đang diễn ra trước mắt, giải thích nó từ góc độ lịch sử bằng các sử liệu thực chứng. Giáo dục lịch sử phải giúp cho học sinh có những năng lực cần thiết như năng lực tư duy phê phán, năng lực đưa ra quyết định, năng lực sáng tạo, năng lực biểu hiện… Xa hơn nữa là phải nhắm tới việc tạo nên những phẩm chất công dân tốt đẹp ở người học sinh. Giáo dục lịch sử phải góp phần quan trọng để tạo nên hình ảnh người công dân mơ ước của đông đảo nhân dân. Đó là những con người có khả năng nhận thức và cải tạo hiện thực để tạo nên một hiện thực khác tốt đẹp hơn. Nói cách khác đó là việc học sinh đi từ học tập Lịch sử đến hành động trong thực tiễn với vai trò của người công dân góp phần sáng tạo nên lịch sử. Nghĩa là, người giáo viên khi dạy Lịch sử phải nhắm đến hình thành ở học sinh hai thứ cần thiết: năng lực nhận thức lịch sử một cách khoa học và phẩm chất công dân. Một khi trả lời được rõ ràng câu hỏi “Dạy Lịch sử để làm gì?”, người giáo viên sẽ tìm kiếm được câu trả lời cho cho các câu hỏi tiếp theo: “Dạy cái gì?”, “Dạy như thế nào?”. Và khi làm được điều đó, giáo viên sẽ làm cho học sinh yêu thích môn Lịch sử. 4. Thường xuyên tổ chức hoạt động ngoại khóa :

Giáo viên: Lê Ngọc Khánh Tổ: Sử-GD-KTPV

Trường THCS Hòa Bình Thạnh -7Năm học 2013-1014

Vua nào mặt sắt đen sì?

Vua nào trong thuở hàn vi ở chùa? (Là những ai? – Đáp án: Mai Thúc Loan, Lý Công Uẩn) 3.

Đố ai trên Bạch Đằng Giang

Làm cho cọc nhọn dọ ngang sáng ngời Phá quân Nam Hán tơi bời Gươm thần độc lập, giữa trời vung lên? ( Là ai?- Đáp án: Ngô Quyền) 4.

Ngàn năm trang sử còn ghi

Mê Linh, sông Hát chỉ vì non sông Chị em một dạ, một lòng Đuổi quân Tô Định khỏi vùng biên cương (Là ai?- Đáp án: Hai Bà Trưng) Giáo viên: Lê Ngọc Khánh Tổ: Sử-GD-KTPV

Trường THCS Hòa Bình Thạnh -8Năm học 2013-1014

Một số biện pháp giúp học sinh yêu thích môn Lịch sử ở trường THCS 5.

Đố ai qua Nhật sang Tàu

Soạn thành huyết lệ hơn cầu tàn thư Hô hào vận động Đông Du Kết đoàn cùng với sĩ phu khắp miền (Là ai?- Đáp án: Phan Bội Châu) Ngoài ra còn rất nhiều vần thơ khác đồng nghiệp có thể tìm hiểu ở cuốn Câu đố Việt Nam(NXB Hồng Đức). Qua áp dụng tôi thấy một không khí thi đua tìm hiểu Lịch sử diễn ra sôi nổi và các em rất mong được có nhiều câu hỏi, câu đố vui như thế. Cứ như vậy, nội dung kiến thức cơ bản về lịch sử sẽ giúp các em khắc sâu hơn để rồi vào giờ học chính khóa môn Lịch sử các em tiếp thu bài nhanh hơn, tự nhiên hơn. III. ÁP DỤNG ĐỔI MỚI PHƯƠNG PHÁP DẠY HỌC TRONG MỘT TIẾT DẠY CỤ THỂ MÔN LỊCH SỬ LỚP 6 : Tiết 1: SƠ LƯỢC VỀ MÔN LỊCH SỬ Với bài này tôi đã vận dụng linh hoạt rất nhiều phương pháp khác nhau khiến bài giảng sinh động: Phương pháp thuyết trình, vấn đáp, kể chuyện, đồng thời tôi ứng dụng vào tiết dạy này. SƠ LƯỢC VỀ MÔN LỊCH SỬ I. Mục tiêu bài học : 1. Kiến thức : – Xã hội loài người có lịch sử hình thành và phát triển. – Mục đích học tập Lịch sử (để biết gốc tích tổ tiên, quê hương đất nước, để hiểu hiện tại). 2. Kỹ năng : Bồi dưỡng về tính chính xác và sự ham thích học tập môn lịch sử.

Giáo viên: Lê Ngọc Khánh Tổ: Sử-GD-KTPV

Trường THCS Hòa Bình Thạnh -9Năm học 2013-1014

Giáo viên: Lê Ngọc Khánh Tổ: Sử-GD-KTPV

NỘI DUNG 1. Lịch sử là gì ?

– Lịch sử là những gì đã diễn ra trong quá khứ. – Lịch sử là khoa học tìm hiểu và dựng lại toàn bộ

Trường THCS Hòa Bình Thạnh – 10 Năm học 2013-1014

2. Học lịch sử để làm gì ? – Học lịch sử để hiểu được cội nguồn của dân tộc, tổ tiên, làng xóm. – Biết quá trình đấu tranh với thiên nhiên và chống ngoại xâm để giữ gìn độc lập dân tộc. – Biết Lịch sử phát triển của nhân loại để rút ra những bài học kinh nghiệm cho hiện tại và tương lai. 3. Dựa vào đâu để biết và dựng lại Lịch sử ?

Căn cứ vào: – Tư liệu truyền miệng ( Truyền thuyết). – Tư liệu chữ viết (Văn bia, tư liệu thành văn). – Tư liệu hiện vật ( Trống đồng, bia đá).

Trường THCS Hòa Bình Thạnh – 11 Năm học 2013-1014

7A1 (37 HS)

7A2 ( 39HS)

7A3 (40HS)

Tỉ lệ

Tỉ lệ

Tỉ lệ

22

59. 4%

24

61.5%

22

55%

10

27.1%

12

30.8%

15

37.5%

5

13.5%

3

7.7%

3

7.5%

5

13.5%

6

15.4%

5

12.5%

17

46%

19

48.7%

19

47.5%

Giáo viên: Lê Ngọc Khánh Tổ: Sử-GD-KTPV

Trường THCS Hòa Bình Thạnh – 12 Năm học 2013-1014

Một số biện pháp giúp học sinh yêu thích môn Lịch sử ở trường THCS kinh nghiệm

15

40.5%

14

35.9%

16

40%

II. NHỮNG VẤN ĐỀ BỎ NGÕ : – Để giúp học sinh yêu thích môn Lịch sử ngoài những biện pháp mà tôi nêu ở trên thì cần có các giải pháp trước mắt như: chỉnh sửa Sách giáo khoa, thay đổi chế độ thi cử, về lâu dài cần đưa môn Lịch sử thành môn thi bắt buộc bên cạnh môn Văn, Toán như các nước vẫn làm đối với giáo dục phổ thông. Nước Mĩ có hơn 200 năm lịch sử dân tộc nhưng họ dành 5 tiết học lịch sử/ tuần, trong khi nước ta có hàng 1000 năm lịch sử dân tộc thì chỉ dành 1,5 tiết/ tuần. Việc đưa ra các giải pháp hữu hiệu khắc phục sự sa sút đáng lo ngại của môn lịch sử trong nhà trường là trách nhiệm không chỉ của cơ quan chức năng mà của giới Sử học cả nước nói chung rằng môn Lịch sử cần được nâng tầm cho đúng chức năng, vai trò của nó. Đặc biệt trong quá trình đất nước hội nhập thì môn Lịch sử nhất là quốc sử càng cần được coi trọng để giúp giới trẻ xây dựng nhân cách, bản lĩnh con người để giữ gìn bản sắc dân tộc trước sự giao thoa văn hóa thế giới. – Cần thay đổi nếp nghĩ, không coi môn Lịch sử là “môn phụ” trong nhà trường và toàn xã hội. III. ĐIỀU KIỆN ÁP DỤNG : – Những biện pháp trên của môn Lịch sử áp dụng cho các cấp học phổ thông đặc biệt là cấp THCS. – Người giáo viên phải yêu nghề, phải say bộ môn, có thời gian nhất định để đầu tư khai thác xây dựng bài, lựa chọn phương tiện dạy học và có được hình thức tổ chức dạy học hợp lý gây dược hứng thú với học sinh.

Giáo viên: Lê Ngọc Khánh Tổ: Sử-GD-KTPV

Trường THCS Hòa Bình Thạnh – 13 Năm học 2013-1014

Giáo viên: Lê Ngọc Khánh Tổ: Sử-GD-KTPV

Trường THCS Hòa Bình Thạnh – 14 Năm học 2013-1014

Một số biện pháp giúp học sinh yêu thích môn Lịch sử ở trường THCS – Đối với giáo viên: Ngoài những kiến thức có trong Sách giáo khoa, người giáo viên cần không ngừng học hỏi, nâng cao trình độ chuyên môn, tiếp cận sự kiện mới nhất để giảng cho học sinh.

Lời kết: Với mục tiêu thực hiện tốt các cuộc vận động ” Học tập và làm theo tấm gương đạo đức Hồ Chí Minh” và cuộc vận động ” Mỗi thầy, cô giáo là một tấm gương đạo đức, tự học sáng tạo” cùng với phong trào ” Xây dựng trường học thân thiện, học sinh tích cực.” Bản thân tôi với tư cách là một giáo viên bộ môn, tôi luôn suy nghĩ tìm tòi các phương pháp dạy học sao cho học sinh của mình có thể nắm bắt kiến thức một cách dễ hiểu nhất, giúp các em có hứng thú với bộ môn, tránh được áp lực khi học bộ môn này. Bằng sáng kiến của mình, tôi rất mong muốn được đóng góp một phần nhỏ cùng với các bạn đồng nghiệp để học sinh yêu thích học môn Lịch sử hơn. Trong quá trình viết, không thể tránh khỏi những sai sót, rất mong các đồng nghiệp góp ý để sáng kiến được hoàn thiện hơn. Trong thời gian tôi làm sáng kiến tôi đã nhận được không ít sự giúp đỡ của các bạn đồng nghiệp, của tổ chuyên môn, và sự tạo điều kiện của nhà trường. Tôi xin trân trọng cảm ơn! Hòa Bình Thạnh, ngày 28 tháng 10 Người thực hiện

Lê Ngọc Khánh

Giáo viên: Lê Ngọc Khánh Tổ: Sử-GD-KTPV

Trường THCS Hòa Bình Thạnh – 15 Năm học 2013-1014

Một số biện pháp giúp học sinh yêu thích môn Lịch sử ở trường THCS

MỤC LỤC NỘI DUNG

A. Phần mở đầu I. Tính mục đích của đề tài II.Cơ sở thực tiễn

B. Nội dung và phương pháp tiến hành I. Thực trạng dạy – học lịch sử ở Trường THCS II. Một số biện pháp giúp học sinh yêu thích môn Lịch sử III. Áp dụng đổi mới phương pháp dạy học …

C. Kết luận I. Kết quả thu được II. Vấn đề bỏ ngỏ III. Điều kiện áp dụng IV. Bài học kinh nghiệm V. Đề xuất kiến nghị

Giáo viên: Lê Ngọc Khánh Tổ: Sử-GD-KTPV

TRANG

Trường THCS Hòa Bình Thạnh – 16 Năm học 2013-1014

“Một Số Biện Pháp Giúp Đỡ Học Sinh Yếu Kém Khắc Phục Khó Khăn Khi Giải Các Bài Toán Điển Hình Ở Lớp 3” / 2023

Toán học là một mảng kiến thức xuyên suốt quá trình học toán của học sinh. Nó không chỉ truyền thụ và rèn luyện kỹ năng kỹ xảo tính toán để giúp các em học tốt môn khác mà còn giúp các em rèn luyện trí thông minh, óc tư duy sáng tạo, khả năng tư duy lô gic, làm việc khoa học. Vì vậy chúng ta cần phải quan tâm tới việc dạy toán ở Tiểu học.

Trong chương trình toán ở Tiểu học cũng như chương trình toán lớp 3 gồm 4 mạch kiến thức cơ bản: Trong đó giải các bài toán có lời văn có vị trí đặc biệt quan trọng. Việc dạy học giải toán giúp học sinh có điều kiện rèn luyện và phát triển năng lực tư duy, phương pháp suy luận và những phẩm chất cần thiết của con người mới.

Giải toán là một mạch kiến thức cơ bản của toán học nó không chỉ giúp cho học sinh thực hành vận dụng những kiến thức đã học mà còn rèn cho học sinh khả

năng diễn đạt ngôn ngữ qua việc trình bày lời giải một cách rõ ràng, chính xác, khoa học, thông qua việc giải toán có lời văn học sinh được giáo dục nhiều mặt trong đó có ý thức đạo đức.

Ngày nay, trong quá trình dạy học chương trình sách giáo khoa mới đòi hỏi người giáo viên cần vận dụng những phương pháp dạy học mới (Phương pháp dạy học tích cực). Xuất phát từ định hướng đổi mới phương pháp dạy học phù hợp đặc điểm từng lớp học, môn học, bồi dưỡng phương pháp tự học, tự rèn luyện kỹ năng vận dụng kiến thức vào thực tiễn đem lại niềm vui, hứng thú học tập cho học sinh.

Tuy nhiên trong quá trình dạy học, người giáo viên còn vận dụng phương pháp dạy học truyền thống dẫn đến kết quả giảng dạy chưa đạt yêu cầu làm giảm hứng thú học tập của học sinh. Đây là một khó khăn không nhỏ đối với giáo viên và học sinh trong quá trình dạy học hiện nay. Đặc biệt là việc giải các bài toán có lời văn của giáo viên còn lúng túng về nhiều mặt, một phần không nhỏ học sinh gặp khó khăn khi giải bài toán còn nhầm lẫn sai sót, trình bày bài giải chưa chính xác, việc hình thành kỹ năng còn chậm, khả năng suy luận kém. Ngoài ra, còn do điều kiện gia đình càng ảnh hưởng không nhỏ tới kết quả học tập của các em. Vậy làm như thế nào để nâng cao chất lượng dạy học môn toán ở trường Tiểu học ? làm thế nào để nâng cao hứng thú học tập cho học sinh ?…. Hàng loạt câu hỏi đặt ra và nó đã làm cho bao nhiêu thế hệ thầy cô phải trăn trở suy nghĩ. Là một giáo viên đã trực tiếp giảng dạy nhiều năm tôi nhận thấy mình phải có trách nhiệm trong việc giúp đỡ học sinh có được kết quả học tập cao.

Xuất phát từ yêu cầu quan trọng của môn học và tình hình thực tế việc dạy và học Toán như trên, tôi đã đi nghiên cứu đề tài:

“Một số biện pháp giúp đỡ học sinh yếu kém khắc phục khó khăn khi giải các bài toán điển hình ở lớp 3”

2. Mục đích nghiên cứu

– Tìm hiểu đặc điểm tâm sinh lí của học sinh yếu kém khi học Toán

– Phân tích nguyên nhân của học sinh yếu kém khi học Toán.

– Tập dượt bồi dưỡng nghiên cứu khoa học cho bản thân.

– Đề xuất một số biện pháp giúp học sinh yếu kém khắc phục khó khăn khi giải các bài toán điển hình ở lớp 3, góp phần nâng cao chất lượng dạy và học Toán ở Tiểu học.

3. Đối tượng nghiên cứu

Năm học 2016 – 20147tôi được phân công giảng dạy lớp 3A, trường Tiểu học An Bồi – Kiến Xương- Thái Bình nên đối tượng tôi chọn để nghiên cứu là học sinh lớp 3A do tôi chủ nhiệm.

4. Phạm vi nghiên cứu

5. Nhiệm vụ nghiên cứu

– Nghiên cứu chuẩn chương trình nội dung dạy học các bài toán điển hình ở lớp 3.

– Nghiên cứu chỉ đạo chung về phương pháp giảng dạy môn toán.

– Điều tra những khó khăn mà giáo viên và học sinh thường mắc.

– Đề xuất những biện pháp khắc phục.

6. Phương pháp nghiên cứu

Trong qua trình nghiên cứu tôi có sử dụng một só phương pháp sau:

– Phương pháp gợi mở, vấn đáp.

– Phương pháp giải quyết vấn đề.

– Phương pháp điều tra khảo sát thực tế.

– Phương pháp luyện tập, thực hành .

– Phương pháp phân tích ngôn ngữ.

7. Những đóng góp mới của đề tài

– Qua nghiên cứu tôi đã đưa ra một số biện pháp và đúc kết được một số kinh nghiệm để giúp học sinh yếu kém khắc phục khó khăn khi giải các bài toán điển hình ở lớp 3.

8. Kế hoạch nghiên cứu

– Tháng 9/ 2016: Lựa chọn tên đăng ký sáng kiến kinh nghiệm

– Tháng 10/ 2016 đến tháng 1/ 2017: Xây dựng đề cương kế hoạch, sưu tầm tài liệu số liệu để xây dựng cơ sở lý luận, cơ sở thực tiễn cho sáng kiến kinh nghiệm, điều tra nghiên cứu thực tế tiến hành thực nghiệm.

– Tháng 2 đến tháng 5 năm 2017: Tiếp tục các biện pháp giáo dục đối tượng, viết nháp sửa thảo văn bản, viết soạn công trình, hoàn thành bản thảo, viết sáng kiến kinh nghiệm.

Phần II: NỘI DUNG

I. CƠ SỞ LÝ LUẬN

1. Vai trò của dạy học giải toán ở Tiểu học nói chung và giải các bài toán có lời văn ở lớp 3 nói riêng

– Dạy học giải toán ở Tiểu học nhằm giúp học sinh biết cách vận dụng những kiến thức về toán và các tình huống thực tiễn đa dạng, phong phú những vấn đề thường gặp trong đời sống.

– Nhờ giải toán học sinh có điều kiện rèn luyện và phát triển năng lực tư duy, rèn luyện phương pháp suy luận và những phần cần thiết vì giải toán là một hoạt động bao gồm những thao tác xác lập mối quan hệ giữa các dữ liệu, giữa cái đã cho và cái cần tìm. Trên cơ sở đó chọn được phép tính thích hợp và trả lời đúng câu hỏi của bài toán.

– Dạy học giải toán giúp học sinh phát hiện giải quyết vấn đề, tự nhận xét so sánh, phân tích, tổng hợp rút ra quy tắc ở dạng khái quát.

a. Nội dung dạy các bài toán điển hình có nội dung hình học được học thành 4 tiết lý thuyết và 3 tiết thực hành, cụ thể:

+ Chu vi hình chữ nhật, chu vi hình vuông.

+ Diện tích hình chữ nhật, diện tích hình vuông.

+ Tiết 157: Bài toán được giải bằng 2 phép tính chia.

3. Yêu cầu chuẩn kiến thức, kỹ năng cần đạt được

a. Bài toán có nội dung hình học

– Biết tính độ dài đường gấp khúc.

– Biết tính chu vi diện tích hình chữ nhật, hình vuông (theo quy tắc).

4. Các dạng bài tập

a. Các bài tập có nội dung hình học

– Bài tập về “Nhận biết hình” (nhận dạng hình)

– Bài tập về “xếp ghép hình” chẳng hạn từ 8 hình tam giác bằng nhau xếp thành cac hình như ở trang 71, trang 82 sách toán 3.

Ví dụ: Bài 4 trang 82 – Toán 3.

– Bài tập về ‘Tính chu vi” hình chữ nhật, hình vuông (theo quy tắc)

– Bài tập về :Tính diện tích” các hình chữ nhật, hình vuông (theo quy tắc)

– Bài tập về “Thực hành” chẳng hạn gấp giấy để tạo thành mép vuông (bài 4 trang 43 sách toán 3) hoặc gấp tờ giấy hình chữ nhật để xác định trung điểm của đoạn thẳng (Bài 2 trang 99 sách toán 3).

– Là một dạng của toán hợp giải bằng hai phép tính. Bài toán được xây dựng từ hai bài toán đơn là ý nghĩa thực tế của phép nhân hoặc phép chia, chẳng hạn:

+ Dạng 1: Bài toán “Có 28 kg gạo đựng đều trong 7 bao. Hỏi 5 bao đó có bao nhiêu ki-lô-gam gạo ?”

Từ cách hiểu trên ta hướng dẫn học sinh giải bằng 2 phép tính, mỗi phép tính ứng với một bài toán đơn tạo thành tương ứng:

Bài giải:

Số ki-lô-gam gạo trong mỗi bao là:

28 : 7 = 4 (kg)

Số ki-lô-gam gạo trong 5 bao là:

4 x 5 = 20 ( kg)

Đáp số: 20 kg

+ Dạng 2: Bài toán “Có 40 kg đường đựng đều trong 8 túi. Hỏi 15 kg đường đựng trong mấy túi như thế ?

Được xây dựng từ hai bài toán đơn: ” Có 40 kg đường đựng đều trong 8 túi. Hỏi mỗi túi đựng bao nhiêu ki-lô-gam đường ?” và bài toán: “Mỗi túi đựng 5 kg đường. Hỏi 15 kg đường đựng trong mấy túi như thế ?

Bài giải:

Số ki-lô-gam đường đựng trong mỗi túi là:

40 : 8 = 5 (túi)

Số túi cần để đựng 15 kg đường là:

15 : 5 = 3 (túi)

Đáp số: 3 túi

5. Phương pháp dạy học giải bài toán điển hình ở lớp 3

– Phương pháp dạy học toán là cách thức hoạt động của giáo viên và học sinh nhằm đạt được mục tiêu dạy học toán.

– Phương pháp dạy học toán là sự vận dụng một cách hợp lý phương phương pháp dạy học theo đặc trưng bộ môn toán mà vận dụng linh hoạt các phương pháp dạy học sau: Phương pháp thực hành luyện tập gợi mở, vấn đáp, giảng giải, minh họa.

II. THỰC TRẠNG VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU

1. Những thuận lợi, khó khăn *Thuận lợi

– Cơ sở vật chất nhà trường đảm bảo và phù hợp với lứa tuổi học sinh.

– Nhìn chung các em ngoan, tham gia tích cực các hoạt động của trường của lớp.

– So với trước đây, phụ huynh đã có sự quan tâm hơn đối với việc học tập của con em mình.

– Về phía giáo viên: Hầu hết các thầy cô đều yêu nghề mến trẻ, tâm huyết với nghề nghiệp, có trách nhiệm với nhiệm vụ được giao, 100% giáo viên đã đạt chuẩn và trên chuẩn.

* Khó khăn

– Nhiều em chưa được bố mẹ quan tâm, ít chú ý đến việc học tập. Hơn nữa trình độ học vấn của các bậc phụ huynh chưa tiếp cận được với phương pháp học tập theo chương trình đổi mới.

Thực trạng của học sinh hiện nay có thể khẳng định rằng học sinh tiểu học nói chung và học sinh lớp 3 nói riêng còn yếu về khả năng phân tích, tư duy để giải bài toán có lời văn.

2. Thực trạng việc dạy học giải toán có lời văn của giáo viên

– Muốn học sinh học tập đạt kết quả thì vấn đề đặt ra cần phải đề cập đến là phương pháp giảng dạy, là cách thức tổ chức hoạt động học tập cho học sinh và quan trọng hơn cả là người giáo viên có trình độ kiến thức, chuyên môn, nghiệp vụ và kinh nghiệm giảng dạy…

Để nghiên cứu sáng kiến này tôi đã khảo sát chất lượng học sinh ngay từ đầu năm học có kết quả như sau:

– Qua điều tra thực tế dạy học môn Toán của giáo viên trường Tiểu học An Bồi – Kiến Xương – Thái Bình tôi nhận thấy một thực trạng như sau:

+ Về trình độ giáo viên đều đạt chuẩn và trên chuẩn. Trong quá trình giảng dạ có nhiều cố gắng đạt mục tiêu bài dạy, có ý thức nâng cao tay nghề.

+ Xong việc vận dụng những kiến thức đã có vào việc giảng dạy còn có nhiều hạn chế, lúng túng, vụng về, thiếu linh hoạt.

+ Năng khiếu sư phạm còn hạn chế dẫn đến việc hướng dẫn học sinh giải bài toán đôi khi còn thiếu chính xác. Kiến thức cơ bản nhiều khi còn bị lãng quên, sự đầu tư vào chuyên môn chưa nhiều dẫn đến chất lượng giờ dạy chưa cao.

VD: Khi hướng dẫn học sinh giải toán, giáo viên chưa khuyến khích học sinh tìm nhiều cách giải khác nhau, chưa cho học sinh thấy được ý nghĩa thực tiễn của nó trong cuộc sống.

+ Một số giáo viên còn chịu ảnh hưởng của phương pháp dạy học truyền thống.

4. Thực trạng việc học giải toán điển hình của học sinh lớp 3

vị hay mắc phải sai lầm như sau:

– Học sinh chưa đọc kỹ đề bài, xác định yêu cầu bài toán chưa đúng, không biết bài toán thuộc loại toán nào dẫn đến việc áp dụng công thức, quy tắc nhầm, lẫn lộn với nhau, kết quả giải toán bị sai.

+ Khi bài toán yêu cầu tính chu vi hình chữ nhật thì lại áp dụng quy tắc tính chu vi hình vuông và ngược lại khi bài toán yêu cầu tính chu vi hình vuông thì lại áp dụng quy tắc quy tắc tính chu vi hình chữ nhật.

+ Khi bài toán yêu cầu tính chu vi hình vuông và chu vi hình chữ nhật thì học sinh yếu, kém không nắm chắc quy tắc để vận dụng quy tắc tính, nhầm giữa tính chu vi hình vuông sang tính diện tích hình vuông, nhầm giữa tính chu vi hình chữ nhật sang tính diện tích hình chữ nhật.

+ Trong bài giải bài toán về chu vi, diện tích các hình (Bài 3 trang 155- Toán 3) khi viết tên đơn vị đo, các em còn bỏ sót, nhầm lẫn. Thông thường kích các cùng đơn vị đo nào thì chu vi có cùng đơn vị đo đó, nhưng với diện tích thì đơn vị đo lại khác. Chẳng hạn: Với hình chữ nhật có chiều dài 9 cm, chiều rộng 6 cm thì đơn vị đo của chu vi là cm, nhưng đơn vị đo của diện tích là cm2. Cụ thể là:

Chu vi hình chữ nhật là:

(9 + 6 ) x 2 = 30 (cm)

Diện tích hình chữ nhật là:

9 x 6 = 54 (cm2)

+ Trong trường hợp số đo các cạnh không cùng đơn vị thì học sinh chưa biết đổi ra cùng đơn vị đo.

VD: Tính diện tích và chu vi hình chữ nhật có chiều dài là 4 dm, chiều rộng là 8 cm.

– Học sinh yếu kém nhận diện hình chậm, không hiểu thuật ngữ toán học, không biết bài đã cho dữ kiện nào để áp dụng vào giải toán. Không nắm được các thao tác giải toán, không biết tư duy bài toán (bằng lời hoặc hình vẽ) nên trình bày sai lời giải, sai bài toán, đáp số sai, thiếu.

– Học sinh yếu còn nhầm khi bài toán cho chu vi hình vuông đi tìm cạnh, học sinh không hiểu bài toán ngược lại áp dụng công thức cạnh hình vuông bằng chu vi chia cho 4.

VD: Bài toán

+ Cho cạnh hình vuông tính chu vi và diện tích, học sinh nhầm giữa hai cách tính nên kết quả bị sai.

+ Cho chiều dài, chiều rộng hình chữ nhật. Tính chu vi, diện tích. Học sinh lại nhầm hai công thức tính dẫn đến kết quả sai.

Dạng 1

+ Bước 1: Rút về đơn vị, tìm giá trị một phần

– Học sinh nhầm khi trả lời chưa rõ ràng

– Sau khi thực hiện phép tính chia ghi danh số sai với câu trả lời

VD: Bài 2 trang 128

“Có 28 kg gạo đựng đều trong 7 bao. Hỏi 5 bao có bao nhiêu ki-lô-gam gạo?”

Học sinh trả lời sai:

Danh số kết quả sau: 28 : 7 = 4 (bao)

Học sinh phải làm đúng là: 28 : 7 = 4 (kg)

Bước 2: Tìm 5 bao có số ki-lô-gam gạo là:

4 x 5 = 20 (kg)

Học sinh hay đặt ngược phép tính là:

5 x 4 = 20 (bao)

Như vậy:

Khi học sinh giải bài toán dạng 1 hay trả lời sai hoặc sai danh số, phép tính sai vì đặt ngược.

Dạng 2:

Bước 1: Tìm giá trị một phần thực hiện phép chia

Bước 2: Biết giá trị một phần thực hiện phép chia để tìm kết quả theo câu hỏi của bài toán.

– Học sinh thường sai: Trả lời sai, ghi danh số nhầm

VD: Bài toán 2 trang 166

Bước 1: tìm giá trị một phần

– Học sinh trả lời sai

3. Một số nguyên nhân dẫn đến thực trạng trên

a. Nguyên nhân khách quan

– Do đặc thù tình hình của địa phương là vùng đất nông nghiệp 90% học sinh là con em nông dân trong đó có đến 50% là con nông dân nghèo, điều kiện

kinh tế gia đình eo hẹp dẫn đến điều kiện học tập của các em cũng bị ảnh hưởng rất nhiều.

– Một số gia đình chưa thực sự quan tâm động viên các em kịp thời cũng như tạo điều kiện tốt hơn để các em học tập.

b. Nguyên nhân chủ quan

– Giáo viên: Trong giảng dạy, một số giáo viên vận dụng các phương pháp dạy học chưa linh hoạt, nhịp độ giảng dạy quá nhanh khiến học sinh yếu, kém không theo kịp. Một số giáo viên còn thiếu tinh thần trách nhiệm với học sinh. Việc đầu tư cho chuyên môn nghiệp vụ còn hạn chế, chưa nắm vững yêu cầu về kỹ thuật và kỹ năng của bài toán, chưa quan tâm đến học sinh yếu, kém.

– Học sinh:

+ Sự phát triển nhận thức của một số em còn chậm, không đồng đều, hoạt động tư duy logic kém. Việc lĩnh hội kiến thức ở các lớp trước chưa đầy đủ, còn những lỗ hổng về kiến thức. Một số em có thái độ học tập chưa tốt, ngại cố gắng, thiếu tự tin.

+ Ngoài ra, có em do sức khỏe chưa tốt, gia đình chưa quan tâm đến việc học hành của các em. Một số phụ huynh do không nắm được cách giải toán ở tiểu học nên không hướng dẫn được cho các em hoặc hướng dẫn các em những cách giải toán của bậc Trung học cơ sở.

Có rất nhiều nguyên nhân ảnh hưởng đến kết quả dạy và học xong đây chỉ là một số nguyên nhân mà trong chương trình công tác và nghiên cứu làm đề tài tôi phát hiện ra. Những nguyên nhân trên tác động lẫn nhau làm giảm hứng thú học tập của học sinh, làm cho cac em thiếu tự tin cố gắng vươn lên dẫn đến kết quả học tập không tốt.

Để khắc phục những tồn tại trên cần phải có biện pháp khắc phục hợp lí.

III. CÁC GIẢI PHÁP KHẮC PHỤC

Việc dạy học giải toán ở tiểu học là giúp học sinh tự tìm hiểu được mối quan hệ giữa cái đã cho và cái phải tìm, mô tả quan hệ đó bằng cấu trúc ghép tính cụ thể, thực hiện phép tính, trình bày lời giải bài toán. Giáo viên cần phải tổ chức cho học sinh nắm vững khái niệm toán học, cấu trúc phép tính, các thuật ngữ…Tổ chức cho học sinh thực hiện các bước giải toán. Vậy qua quá trình nghiên cứu thực hiện đề tài tôi xin đưa ra một số biện pháp sau đây.

1. Trang bị những công thức, quy tắc, kỹ năng giải toán

Học sinh cần nắm chắc quy tắc, công thức tính, các bước tính của một phép tính từ đó mới rèn luyện được kỹ năng tính toán.

Đối với loại toán có nội dung hình học thì khả năng nhận biết các đặc điểm cảu một hình vẽ là rất quan trọng.

Ví dụ: Khi dạy về “Diện tích hình chữ nhật” giáo viên cần cho học sinh nhắc lại đặc điểm của hình chữ nhật thông qua hình vẽ.

+ Khả năng cắt ghép hình tam giác thành hình chữ nhật.

+ Giáo viên cần có biện pháp giúp học sinh nhớ rõ các ký hiệu hình vẽ.

Chẳng hạn, đâu là cạnh chiều dài của hình, đâu là cạnh chiều rộng của hình chữ nhật. Từ đó học sinh biết vận dụng vào giải các bài toán áp dụng trực tiếp quy tắc đã xây dựng để vận dụng tính.

Bài tập VD: Cho hình chữ nhật có cạnh dài là 8cm, cạnh ngắn là 5cm. Tính diện tích hình chữ nhật đó ?

Với bài tập này học sinh chỉ cần vận dụng đúng quy tắc, công thức đã được trang bị là giải được ngay. Cũng có những bài toán đòi hỏi học sinh phải có khả năng tư duy thì mới giải được. Do vậy, giáo viên cần rèn cho các em kỹ năng này.

VD: Bài toán: Cho hình chữ nhật có nửa chu vi là 22cm, cạnh ngắn là 9 cm. Tính diện tích hình chữ nhật đó ?

– Khi giải bài toán không có cùng đơn vị đo thì phải biết đổi ra cùng một đơn vị đo.

VD: Số đo cạnh theo mm, số đo diện tích theo cm2. Vậy phải đổi số đo cạnh ra cm.

– Giáo viên cần lưu ý cho học sinh:

+ Với hình chữ nhật có số đo chu vi là cm, thì đơn vị đo của diện tích là cm2

+ Với hình vuông có số đo chu vi là cm thì đơn vị đo của diện tích hình vuông là cm2.

Giáo viên cần hướng dẫn cho học sinh biết đề bài yêu càu tính cái gì? Bài toán thuộc dạng 1 hay dạng 2 để giải bài toán.

Ví dụ:

+ Bài toán ở dạng 1 thì phải tìm giá trị của một phần là thực hiện phép chia rồi mới tìm được giá trị của nhiruf phần (thực hiện phép tính nhân).

+ Bài toán chia ở dạng 2 thì: Bước 1 cũng phải tìm giá trị một phần (thực hiện phép tính chia) nhưng ở bước 2 thì lại khác với bước 2 ở dạng 1 đó là biết giá trị một phần rồi lại tiếp tục thực hiện phép chia để tìm kết quả theo yêu cầu của bài toán.

*Điều quan trọng chủ yếu khi dạy giải toán là dạy học sinh biết cách giải bài toán (phương pháp giải toán). Giáo viên không được làm thay, không được áp đặt cach giải cần phải tạo cho học sinh tự tìm ra cách giải bài toán tập trung vào 3 bước:

+ Tính toán để biết bài toán cho gì, hỏi gì, yêu cầu gì?

+ Tìm cách giải thông qua việc thiết lập mối quan hệ giữa các dữ kiện của

bài toán (giả thiết) với yêu cầu của bài (kết luận) để tìm ra phép tính tương ứng.

+ Trình bày bài giải, viết câu lời giải, phép tính trung gian và đáp số.

2. Biện pháp hình thành và rèn luyện kĩ năng giải toán điển hình

Trong quá trình thực hiện nhiệm vụ giảng dạy của mình, tôi nhận thấy rèn kĩ năng giải toán cho học sinh là một biện pháp không thể thiếu trong qua trình dạy học.

Do đặc điểm của môn toán ở tiểu học được cấu tạo theo kiểu đồng tâm các nội dung được củng cố thường xuyên và được phát triển dần từ đơn giản đến phức tạp, từ dễ đến khó. Sau khi đã lĩnh hội kiến thức, kĩ năng toán học, để định hình vững chắc kiến thức ấy, học sinh cần rèn luyện vận dụng qua các dạng bài tập khác nhau, có yêu cầu cao hơn. Để giải được các bài tập ấy, giáo viên cần hướng dẫn các em tư duy từ cái đã biết để tìm cái chưa biết, rèn cho học sinh óc suy luận, phán đoán và kỹ năng.

– Phân tích đề bài toán: Là một kỹ năng quan trọng nhất

Ví dụ: Bài toán 1

“Một tờ giấy hình chữ nhật có chiều dài 72cm, chiều rộng bằng 1/8 chiều dài. Tính diện tích tờ giấy đó”.

Để giải được bài toán này học sinh cần phải phân tích đề và dựa vào những yếu tố đã biết để giải.

+ Bài toán đã biết chiều dài chưa?

+ Bài toán đã biết chiều rộng chưa?

Vậy để tính được diện tích tờ giấy thì ta phải tính gì trước?

Qua hàng loạt câu hỏi đặt ra để phân tích yêu cầu bài toán, trả lời được các câu hỏi đó, học sinh sẽ làm được bài tập dễ dàng.

Với các kỹ năng đã có của học sinh, giáo viên là người giúp học sinh rèn luyện và phát huy những kỹ năng ấy, cần cho học sinh nắm rõ thuật ngữ toán học”chiều rộng bằng 1/8 chiều dài nghĩa là gì?

Biết phân tích và tóm tắt bài toán bằng cách ghi các dữ kiện đã cho và câu hỏi của bài toán dưới dạng ngắn gọn nhất. Qua tóm tắt học sinh có thể nêu lại được bài toán, từ đó lập kế hoạch giải, do vậy giáo viên cần hướng dẫn:

+ Muốn tính được diện tích tờ giấy ta cần dữ liệu nào? (có chiều dài, có chiều rộng).

+ Tìm chiều rộng bằng cách nào ? Lấy 72 : 8 = 9 (cm)

Như vậy với một số câu hỏi gợi mở mà giáo viên đưa ra, học sinh có thể sẽ tìm cách giải bài toán về những kiến thức đã học để có thể áp dụng được công thức tính.

Giáo viên cũng vận dụng cách hướng dẫn trên, yêu cầu học sinh phân tích kỹ yêu cầu bài toán, xem bài toán thuộc dạng toán 1 hay dạng toán 2. Vận dụng công thức tính đến việc suy luận cho nên việc xác định dạng toán là rất quan trọng.

VD: “Có 45 học sinh xếp thành 9 hàng đều nhau. Hỏi có 60 học sinh thì xếp được bao nhiều hàng như thế ?”.

Những Biện Pháp Giúp Cho Hàm Răng Luôn Trắng Sáng / 2023

Để có hàm răng trắng sáng và nụ cười tự tin bạn cần phải biết giữ vệ sinh răng miệng. Với các chia sẻ của bác sỹ sau đây bạn có thể tham khảo và biết được thêm nhiều cách để giúp cho hàm răng luôn trắng sáng.

Làm sao để có hàm răng trắng và đẹp?

Câu hỏi bởi: Giấu tên

Chào bác sĩ.

Xin bác sĩ tư vấn giúp cháu làm thế nào để có hàm răng trắng và đẹp. Cháu đánh răng thường xuyên 3 lần 1 ngày, cháu đánh rất kĩ và dùng bàn chải chất lượng nhưng kết quả cháu không hài lòng lắm dù hơi thở cháu rất thơm. Xin bác sĩ giúp cháu cách làm trắng răng ạ.

Cháu xin cảm ơn!

Bác sĩ Nguyễn Thị Minh Huệ

“Hàm răng, mái tóc là góc con người”. Răng có đẹp thì nụ cười mới tươi. Tuy nhiên, nếu màu răng bị xỉn ở một hàm răng đẹp thì thật đáng tiếc. Màu trắng của răng là do màu của lớp men răng bọc bên ngoài. Muốn có hàm răng trắng và đẹp thì cháu phải có ý thức bảo vệ lớp men răng ngay từ khi còn bé. Cháu phải thực hiện chế độ vệ sinh răng miệng theo đúng cách giúp cho răng không bị sâu, bị sún (chải răng sau khi ăn và trước khi đi ngủ – ít nhất 2 lần/ngày, chải đúng cách).

Cháu nên chú ý đến chế độ ăn uống, sinh hoạt để bảo vệ lớp men của răng không nên ăn quá nhiều bánh kẹo, nước ngọt có màu, ăn quá nóng, quá lạnh… Một số hoá chất có thể ngấm vào men răng từ từ hàng ngày làm cho men răng bị ngả màu dần dần. Có một số thuốc làm biến đổi men răng vĩnh viễn (Tetracyclin) nên không được chỉ định dùng cho trẻ em. Khi trưởng thành, răng đã hoàn chỉnh thì vẫn phải chú ý bảo vệ lớp men răng như không hút thuốc lá, thuốc lào, kiêng ăn sôcôla, nước ngọt có chất tạo màu đậm, cà phê, chè…

Qua lời kể thì việc vệ sinh răng miệng của cháu đã đúng cách rồi, tuy nhiên màu răng chưa được trắng như ý muốn. Từ xưa, cha ông ta đã tìm nhiều cách làm trắng răng như chải răng với muội than, vỏ trứng gà, xác cau hoặc sử dụng các loại kem đánh răng… Để làm trắng răng đơn giản nhất là buổi tối trước khi đi ngủ và sáng sớm cháu nên đánh răng bằng kem đánh răng có rắc thêm một ít bột Natri Bicarbonat (thuốc muối).

Tại các nhà thuốc hoặc các phòng khám Răng Hàm Mặt có bán các loại thuốc dạng nước súc miệng, kem hoặc gel có các chất như glycerin, sodium benzoate, methyl salicylate, acid citric… để tẩy trắng răng. Đây là các hoạt chất có tính chất tẩy và oxi hoá mạnh có tác dụng làm sạch răng, làm cho răng bóng và sáng màu hơn (tác dụng từ từ) chứ không làm cho răng trắng sáng ngay được.

Hiện nay, tại các phòng khám Răng Hàm Mặt có nhiều phương pháp tẩy trắng răng từ đơn giản đến hiện đại với 1 răng, nhiều răng hay cả hàm răng. Tốt nhất, muốn có một hàm răng trắng, bóng và đẹp như ý cháu nên đi khám chuyên khoa Răng Hàm Mặt để được bác sĩ chỉ định các biện pháp tẩy trắng răng phù hợp và hiệu quả.

Chúc cháu mạnh khoẻ!

Làm sao để có được hàm răng trắng đẹp.

Câu hỏi bởi: lucky

Chào bác sĩ!

Cháu muốn có một hàm răng trắng, chắc khỏe và đẹp thì phải làm gì ạ?

Cháu cám ơn ạ!

Bác sĩ Đinh Thị Thu Hương

Làm thế nào để làm răng trắng?

Câu hỏi bởi: Giấu tên

Chào bác sĩ!

Cháu năm nay lớp 10 là nữ giới. Hiện tại răng của cháu vàng lắm nhưng không biết làm thế nào để cháu có được hàm răng như cháu muốn nữa. Cháu biết cái răng, cái tóc là góc con người nên mỗi lần cười cháu đều rất xấu hổ và hơi buồn nữa. Cháu rất mong bác sĩ hãy giúp cháu.

Cháu cảm ơn nhiều!

Bác sĩ Nguyễn Thị Thu Huyền

Vàng răng là nỗi ám ảnh không phải của riêng ai nhất là những người luôn muốn có nụ cười rạng rỡ. Có rất nhiều lí do gây răng vàng răng như: thói quen ăn uống (cà phê, trà, thuốc lá, một số loại quả và trái cây, thức ăn hay nước có nhiều chất phèn…), do vệ sinh răng miệng không đúng cách, do sử dụng một số loại thuốc như Tetracycline, hoặc có thể do di truyền.

Việc điều trị một hàm răng xỉn màu cũng có rất nhiều phương pháp: đơn giản nhất cháu tập trung giữ gìn vệ sinh răng miệng mỗi ngày đúng cách, dùng chỉ nha khoa để vệ sinh kẽ răng. Cháu nên hạn chế thực phẩm làm xỉn màu răng, và cũng đừng quên súc miệng sau khi uống trà, cà phê và các loại thực phẩm khác khiến răng dễ bị đổi màu. Lấy cao răng định kỳ 6 tháng/lần.

Baking soda cháu mua tại các siêu thị rồi dùng như kem đánh răng, hoặc chà lên răng bằng ngón tay. Cháu không nên sử dụng hàng ngày, chỉ 1 lần/tháng là vừa đủ.

Lá cây ngải cứu tươi chà lên răng có tác dụng làm trắng răng và chắc lợi hiệu quả.

Vỏ cam cháu có thể chà trực tiếp mặt trong của vỏ cam lên răng hoặc nghiền nát vỏ cam rồi chà lên răng.

Nếu thấy răng ngả vàng nhiều, cháu hãy đi khám chuyên khoa Răng Hàm Mặt để được giải đáp các biện pháp làm trắng răng.

Chúc cháu sớm có hàm răng như ý!

Bị men răng muốn làm trắng răng phải làm sao?

Câu hỏi bởi: Minh Minh

Chào bác sĩ.

Em năm nay 14 tuổi, là nữ giới. Em muốn làm trắng răng vì răng em bị vàng, bây giờ em muốn làm trăng răng bằng dâu tây, cau,… nhưng răng bị men răng thì có được không? Nướu của em bị có màu đỏ cam và có đường dài màu đen. Mong bác sĩ giải đáp.

Cám ơn bác sĩ.

Qua thông tin trong thư, cháu có thể bị viêm lợi (nướu răng). Đường dài màu đen ở nướu của cháu chính là cao răng. Bình thường, răng của mỗi người có một lớp màng mỏng bám trên bề mặt răng gọi là màng sinh học. Các vi khuẩn đến bám vào màng này và phát triển nhờ những mảnh vụn thức ăn và nước bọt, tạo thành mảng bám.

Vi khuẩn phát triển mạnh làm thay đổi độ pH và tạo điều kiện cho các mảnh vụn thức ăn, các khoáng chất trong môi trường miệng đến hình thành nên những mảng cứng bám xung quanh cổ răng gọi là cao răng. Độ pH axit có thể tấn công phá hủy lớp men răng, gây nên sâu răng. Mảng bám không được loại bỏ còn có thể gây kích ứng tổ chức lợi quanh răng, dẫn đến viêm lợi (đỏ, sưng và chảy máu lợi), bệnh nha chu và mất răng. Vấn đề răng miệng của cháu hiện tại là tình trạng cao răng nhiều dẫn đến viêm lợi, răng bị ố màu.

Cháu nên đến phòng khám răng để được chữa trị kịp thời. Lấy cao răng vừa có tác dụng chữa viêm lợi, vừa tẩy sạch những vết ố trên răng làm răng trắng hơn. Nếu viêm lợi nặng đã tiến triển thành bệnh nha chu, phải chữa trị bằng kháng sinh kết hợp với thủ thuật làm sạch các túi lợi. Bên cạnh việc chữa trị viêm lợi, cháu cần chú ý phòng bệnh bằng cách giữ vệ sinh răng miệng. Trước tiên phải biết chải răng đúng cách, mỗi ngày 2-3 lần sau các bữa ăn và trước khi đi ngủ.

Cháu nên chọn bàn chải có lông mềm, đầu tròn để không gây tổn thương lợi khi chải răng, to vừa phải để làm sạch được cả hàm răng. Thuốc đánh răng nên chọn loại có chứa fluor và có độ xút nhẹ. Khi chải răng, cần chải hết tất cả mặt trong, mặt ngoài, mặt nhai của răng. Dùng chỉ tơ nha khoa làm sạch kẽ giữa hai răng. Khi các sợi nilon của bàn chải bị cong, hướng đổ ra xung quanh, hoặc các sợi bàn chải đã mất hết màu… thì phải thay bàn chải ngay. Cần định kỳ lấy cao răng và kiểm tra răng miệng 6 tháng một lần để kịp thời phát hiện và chữa các bệnh răng lợi.

Chúc cháu mạnh khỏe!

Bột nở trộn với chanh có làm răng trắng không?

Câu hỏi bởi: kiss my heart

Thưa bác sĩ.

Tôi năm nay 19 tuổi, là nam giới. Hàm răng của tôi bị vàng, không biết sử dụng bột nở trộn với chanh rồi xoa lên răng có làm răng trắng lại không thưa bác sĩ?

Xin cảm ơn!

Do những thói quen thường dùng các thức ăn, nước uống có màu sậm, hút thuốc lá… sẽ làm cho màu răng ngày càng sậm dần, gọi là bị nhiễm màu.

Việc dùng bột nở trộn với nước cốt chanh rồi xoa lên răng chỉ là “giải pháp tình thế” với những tình huống bị mảng bám do hút thuốc lá hay chất màu của thức ăn. Vì thế tẩy trắng răng được xem như một phương pháp cải thiện thẩm mỹ hiệu quả, đáng tin cậy.

Hiện nay tẩy trắng răng chủ yếu theo hai phương pháp:

Tẩy trắng tại các trung tâm nha khoa bằng hóa chất có nồng độ cao kết hợp với năng lượng ánh sáng (đèn Halogen, đèn Plasma, đèn Laser…).

Tẩy trắng răng tại nhà: Phương pháp này “dài hơi” và phức tạp hơn. Bạn sẽ được nha sĩ hướng dẫn cách sử dụng máng tẩy một cách cẩn thận, cách tra thuốc, bảo quản thuốc và khắc phục những trường hợp thông thường xảy ra trong quá trình tự thực hiện. Thời gian tẩy tùy thuộc vào sắc độ màu răng hiện tại và “tham vọng” độ trắng sau khi tẩy của bạn. Bạn sẽ có thời gian đeo máng tẩy trắng răng trung bình từ 15-20 ngày.

Trước khi quyết định tẩy răng, bạn cần có sự kiểm soát cẩn thận của nha sĩ. Tẩy trắng răng không bao giờ là vĩnh viễn. Bạn có thể giữ cho răng trắng lâu hơn khi vệ sinh răng miệng đúng cách: Chải răng ít nhất hai lần/ngày, dùng chỉ tơ nha khoa một lần/ngày. Sử dụng kem đánh răng làm trắng răng chỉ 2 lần/tuần để lấy đi các chất nhiễm màu trên bề mặt răng, thời gian còn lại dùng kem đánh răng thường có fluor. Khám răng định kỳ sáu tháng/lần để nha sĩ kiểm tra tổng quát và đánh giá màu răng. Tốt nhất, nên sử dụng ống hút khi uống nước để tránh các chất màu tiếp xúc trực tiếp với các răng cửa. Cần chải răng, súc miệng ngay lập tức sau khi ăn, uống thực phẩm có màu.

Bạn đang xem bài viết Một Số Biện Pháp Giúp Giảm Đau Cơ / 2023 trên website Kichcauhocvan.net. Hy vọng những thông tin mà chúng tôi đã chia sẻ là hữu ích với bạn. Nếu nội dung hay, ý nghĩa bạn hãy chia sẻ với bạn bè của mình và luôn theo dõi, ủng hộ chúng tôi để cập nhật những thông tin mới nhất. Chúc bạn một ngày tốt lành!